Đi tìm mộ thân mẫu Vua Đinh Tiên Hoàng

Chủ Nhật 7:35 01/08/2010
(HNM) - Đại Việt sử ký toàn thư (tập 1, phần kỷ nhà Đinh) có viết: "Vua (Đinh Tiên Hoàng - tác giả) họ Đinh, tên húy là Bộ Lĩnh, người ở động Hoa Lư, châu Đại Hoàng (nay là huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình) là con trai Đinh Công Trứ, Thứ sử Hoan Châu. Dẹp  yên các sứ quân, tự lập làm đế... Vua còn nhỏ mồ côi cha, mẹ là họ Đàm".

Sau khi Đinh Tiên Hoàng mất, “triều thần rước linh cữu về táng ở Sơn Lăng”. Ngày nay, du khách tới thăm cố đô Hoa Lư (Ninh Bình), đều không quên tới thăm mộ vua Đinh ở núi Yên Ngựa. Tuy nhiên, một câu hỏi được đặt ra là mộ thân mẫu vua ở đâu khi đất Ninh Bình không thấy dấu tích?

Trong một lần đi điền dã về quê hương nhà bác học Lê Quý Đôn (xã Độc Lập, Hưng Hà, Thái Bình), tình cờ vào thăm một ngôi miếu cổ ở thôn Lộc Thọ, chúng tôi đều ngạc nhiên bởi đây lại là nơi thờ thân mẫu vua Đinh và ở đình làng còn thờ bốn thuộc tướng của ngài là Đinh Điền, Phạm Thành, Lưu Công, Sát Công. Làng Lộc Thọ trước đây theo thần phả từ thời nhà Đinh là trang Thụy Thú - làng Thụy Thú. Đến nay, các cụ già còn quen tên gọi tắt là làng Thú (thôn Thú). Ngôi miếu cổ nhìn về hướng tây nam, tọa lạc trên khu đất rộng rãi. Phía trước là hồ nước rộng. Sân miếu đủ để rước kiệu cho những ngày tế lễ, hội làng. Miếu được xây dựng với cấu trúc hình chữ Đinh. Mái lợp ngói mũi, đầu hồi đắp đấu vuông bắt chỉ, nóc góc vuông có nghê chầu mặt nguyệt. Tiếp tiền sảnh là hậu cung. Tường hai bên được xây đắp hai cửa chớp vuông nhỏ. Gạch xây miếu là loại gạch cổ xưa, bản rộng, tường mặt ngoài bắt hèm cong lòng máng, không trát. Trong miếu, vật liệu làm khung, mái toàn bằng gỗ lim, cột quân, cột cái tròn, xà, bẩy, câu đầu hình má trai, soi chỉ và chạm hoa lá...

Theo thần phả và lời kể của các vị cao niên trong làng, miếu Lộc Thọ có cách đây 1.030 năm, đã qua nhiều lần trùng tu (lần cuối cùng vào năm Giáp Tý, triều Nguyễn Khải Định năm thứ 9-1924). Thần tích Ngọc phả của miếu chép rằng: Miếu thờ Quốc mẫu Thiềm Nương Hoàng Thái hậu. Vốn dấy cờ khởi nghĩa ở Hoa Lư, thấy đã đủ mạnh, Đinh Bộ Lĩnh rời đi dẹp loạn sứ quân, khi xuất quân có đem theo thân mẫu Đàm Thị. Thần phả ghi, bà Thiềm Nương - tức Đàm Thị - có tài cung kiếm. Sau khi về với sứ quân Trần Lãm ở Kỳ Bố Hải Khẩu, Đinh Bộ Lĩnh đã cùng các tướng Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Lưu Công, Sát Công, Phạm Thành về đóng đồn ở Doanh đầu (trang Thụy Thú) nhằm ngăn sứ quân của Phạm Bạch Hổ đang chiếm giữ đất Đằng Châu (nay thuộc Kim Động, Hưng Yên). Ông lưu thân mẫu lại trang Thụy Thú, dẫn quân đánh dẹp. Khi sắp xưng vương, ông cho người về trang Thụy Thú rước nhưng do ốm nặng, bà không về Hoa Lư được và mất tại đó. Vua Đinh cho táng mẹ ở doanh đồn Thụy Thú.

Tương truyền, huyệt đào sâu 1 trượng 2 thước (khoảng 4,8m). Mặt huyệt dùng đá lấp lên, sau dân làng xây miếu ở trên để thờ. Vua lệnh miễn giảm tô thuế cho dân Thụy Thú, ngoài ra cấp 51 mẫu ruộng và 4 hốt bạc để dân làng canh tác, coi giữ miếu đường. Cũng theo thần phả, bốn tướng Đinh Điền, Phạm Thành, Lưu Công, Sát Công trở về Thụy Thú chiêu dụ dân chúng bảo vệ hoàng lăng mộ địa. Hiện đình làng còn thờ bốn vị. Tại đây còn lưu 10 đạo sắc phong của ba đời vua Nguyễn: Thành Thái, Duy Tân, Khải Định. Các triều vua đã ban cấp thần hiệu: Đinh triều quốc Mẫu nhân từ Thiềm Nương Hoàng thái hậu trang huy dực bảo trung hưng thượng đẳng thần.

Qua thần phả, chúng ta được biết bà Thiềm Nương (Đàm Thị) sinh ngày 15-8 và hóa ngày 10-10. Miếu thờ Thái hậu ghi: “Thánh hậu Đinh Miếu” và có nhiều câu đối, trong đó có đôi câu:

Bát trâm tường thiểm nam thiên hạ
Kỵ mã tâm hùng nữ  trượng phu


Các cụ Nguyễn Duy Gấm, Nguyễn Xuân Trà ở làng cho biết: Trước đây, cánh đồng trước miếu có ngôi mộ giả, tương truyền là mả thân mẫu vua. Cây cối rậm rạp, um tùm, dân vẫn quen gọi là Miễu. Bao đời nay, cha ông truyền lại rằng ngôi mộ thật hiện ở hậu cung của miếu. Tương truyền sau khi mẹ vua Đinh mất, triều đình đã cho chở đá phiến về lát trên mặt mộ. Sau này, dân làng lập miếu thờ, khi xây hậu cung đã dựng tường lên trên mặt đá của mộ. Hằng năm, vào ngày sinh, ngày mất của thân mẫu vua Đinh, dân làng đều tổ chức lễ hội để tưởng nhớ những người có công với làng, với nước. Hiện trong lễ hội tế ở làng Lộc Thọ còn lưu truyền tục lễ Thần Nông. Lễ hội được tổ chức vào ngày 10-5 âm lịch hằng năm để kỷ niệm ngày mất của hai vị tướng đã từng theo Thiềm bà và vua Đinh dẹp loạn 12 sứ quân. Đó là tướng quân Lưu Công và Sát Công. Tục lệ này được dân làng gọi là tục té nước Thần Nông. Thông thường, sau khi làm lễ ở đình, vị thủ nhang mặc quần lương, khăn xếp, cầm cành nêu bằng tre (dài 5m) và một bó mạ rồi mang ra cánh đồng đầu làng. Sau khi đã cắm cành nêu ở giữa ruộng, vị thủ nhang này mang mạ xuống ruộng cấy (ruộng cấy đã được cày, bừa và tát nước đổ vào trước ngày lễ hội). Quan viên hàng huyện, hàng tổng, hàng xã cùng xuống ruộng và té nước vào người cấy- coi đó là Thần Nông. Càng té được nhiều nước vào người cấy thì càng tốt. Sau khi người thủ nhang cấy hết bó mạ trên tay thì mọi người dừng té nước. Thông thường cứ phải sau ngày lễ Thần Nông, người dân trong vùng mới được cấy lúa vụ mùa. Sau lễ, mọi người đổ về đình  làm lễ tế Thần Hoàng. Trong lễ hội thường có mời hội rối, hội chèo và có tục đấu gậy.

Bản thần tích Ngọc phả được lưu truyền ở miếu và đình Lộc Thọ là do Hàn lâm viện Đại học sĩ Nguyễn Bính soạn ngày mồng một tháng giêng năm 1572. Đến triều vua Lê Vĩnh Hựu (thứ 2) - 1736, Tiến sĩ Nguyễn Hiền phục sao để ban cấp cho dân làng Thụy Thú thờ tự. Qua khảo cứu thần phả, thần tích, sắc phong và được nghe các cụ già trong làng kể lại, chúng tôi thấy có nhiều sở cứ rằng làng Thụy Thú xưa (Lộc Thọ nay) đã từng là căn cứ đóng quân của vua Đinh Bộ Lĩnh, đồng thời là nơi táng bà Đàm Thị. Rất mong tồn nghi này được sự quan tâm của các nhà khảo cổ học, các nhà nghiên cứu lịch sử.