Archimedes Patti - nhân chứng lịch sử ngày 2-9-1945

Thứ Năm 11:49 30/08/2018
(HNMO) - Archimedes L.A.Patti (1913-1998) vinh dự là người nước ngoài đầu tiên được Chủ tịch Hồ Chí Minh mời đến nghe bản dự thảo Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trước ngày lễ Độc lập tại Hà Nội.

Archimedes L.A.Patti (1913-1998).

Ngày 22-8-1945, Thiếu tá Archimedes L.A Patti - Trưởng ban Đông Dương của OSS (Cơ quan Phục vụ Chiến lược Mỹ, tiền thân của CIA), Trưởng phái bộ tiền trạm của quân đội Mỹ có mặt tại Hà Nội để thực hiện nhiệm vụ giải cứu tù binh và chuẩn bị cho việc giải giáp quân Nhật tại Bắc Đông Dương.

Trong thời gian ở Hà Nội, Patti đã có những hành động thiết thực để thể hiện cảm tình của mình: Nhận chuyển giúp một số thư, điện của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và của Chủ tịch Hồ Chí Minh về Mỹ, đứng ra làm trung gian cho các cuộc tiếp xúc Việt - Pháp đầu tiên vào tháng 9-1945 và viết những bản báo cáo trung thực, khách quan về tình hình Việt Nam gửi lên cấp trên của mình.

Chính vì vậy, Patti đã giành được sự thân thiện và tình cảm đặc biệt của những nhà cách mạng Việt Nam, nhất là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Mặc dù vô cùng bận rộn, nhưng Người đã dành nhiều thời gian để trao đổi, tâm sự với Patti và thực sự coi ông như một người bạn.

Ngày lễ Độc lập Việt Nam trong mắt một người Mỹ

Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, một sự kiện trọng đại có ý nghĩa quan trọng trong tiến trình lịch sử Việt Nam.
 

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Trong biển người tham dự và chứng kiến buổi lễ lịch sử này, có Archimedes L.A Patti cùng các đồng nghiệp của ông. Trong cuốn hồi ký “Why Viet Nam?” (Tại sao Việt Nam - 1980), Patti đã miêu tả tỉ mỉ, sống động về thời khắc trọng đại đó:

“Từ sớm tinh mơ, dân chúng Hà Nội như các bầy ong, từng đoàn lúc lớn lúc nhỏ, lũ lượt dần dần kéo đến cạnh Quảng trường Ba Đình.

Ở nhiều chỗ là một khối dân chúng các làng ngoại ô. Đi theo trong biển người đó, có cả những tốp người miền núi với y phục địa phương của họ và nông dân trong những bộ khăn áo cổ truyền.

Giữa các khối khác nhau, người ta dễ dàng nhận ra các tổ chức của công nhân, sơ mi trắng, quần dài hoặc quần soóc trắng hoặc xanh. Phụ nữ mặc áo dài trắng hay mầu sáng, tay khoác nón...

...Mặt trời đã lên cao. Không khí oi bức, nhưng đôi lúc cũng có cơn gió nhẹ thổi làm phấp phới cả cái biển cờ trên quảng trường. Cao trên cột trước lễ đài, lá cờ đỏ với ngôi sao vàng lớn phấp phới bay.

Bất chợt có tiếng còi và các hiệu lệnh quân sự phát ra từ các đội hình. Đội danh dự và các đơn vị bộ đội đứng thẳng và chăm chú theo dõi khi có người đã bắt đầu xuất hiện trên lễ đài. Mấy phút sau, nổi lên tiếng hô: “Bồng súng chào!”.

Quần chúng bỗng im lặng trong khi các vị chức quyền tìm chỗ đứng vào đường sau cái bao lơn được trang trí bằng mầu trắng và đỏ. Trên lễ đài, mọi người đều bận đồ trắng, thắt cavát và để đầu trần, trừ một người nhỏ nhắn mặc áo kaki mầu sẫm và có cái gì như cái khăn trùm đầu - Đó là Hồ Chí Minh.

Bìa cuốn “Why Vietnam?: Prelude to America's Albatross” của Archimedes Patti

...Một tiếng trong loa phóng thanh nổi lên phá vỡ sự im lặng, giới thiệu ông Hồ “là người giải phóng, vị cứu tinh của dân tộc”. Quần chúng được sự hướng dẫn của các đảng viên, lên tiếng hát và trong mấy phút liền hô vang “Độc lập”. Ông Hồ đứng yên mỉm cười, nhỏ nhắn trong vóc dáng, nhưng vĩ đại trong sự hoan hô của nhân dân ông. Ông giơ tay ra hiệu im lặng và bắt đầu đọc bản Tuyên ngôn, nay trở thành nổi tiếng của ông với những lời: “Mọi người sinh ra đều bình đẳng. Tạo hóa đã ban cho chúng ta những quyền bất khả xâm phạm, trong đó có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.

Ông Hồ dừng lại đột ngột và hỏi người nghe: “Đồng bào có nghe rõ tôi nói không?”. Quần chúng hô vang đáp lại: “Rõ!”. Thực là một nghệ thuật diễn thuyết bậc thầy! Từ lúc đó, quần chúng lắng nghe lấy từng lời. Cứ nghe giọng nói của ông Hồ, bình tĩnh và rõ ràng, ấm cúng và thân mật, và nghe thấy được quần chúng trả lời thì chúng tôi không còn nghi ngờ gì nữa là những lời của ông đã thấu tới quần chúng.

Sau đó, quay về bản Tuyên ngôn của Cách mạng Pháp 1791, nói về quyền con người và quyền công dân, ông Hồ nói Bản Tuyên ngôn đã công bố: "Mọi người sinh ra phải được tự do và có quyền bình đẳng. Đó là những chân lý không thể chối cãi được"...

Ấn tượng tốt đẹp về Chủ tịch Hồ Chí Minh

Theo A.Patti, lần đầu tiên cái tên Hồ Chí Minh được nhắc đến trong một bức điện ngày 31-12-1942 của Đại sứ Mỹ thông báo việc bắt và giam Hồ Chí Minh ở Liễu Châu, Quảng Tây. Từ công việc, giữa người cách mạng Hồ Chí Minh và viên thiếu tá người Mỹ này đã dần dần thiết lập một mối quan hệ bạn bè đặc biệt. Trong thiên hồi ký “Why Viet Nam?”, Archimedes Patti đã dành những tình cảm xúc động khi viết về vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam.
 

Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và nhóm Con Nai năm 1945

Ngay trong lần gặp gỡ đầu tiên với Hồ Chí Minh trong một ngôi làng nhỏ ở Tĩnh Tây, Quảng Tây, Trung Quốc ngày 27-4-1945 để bàn về việc phối hợp hoạt động chống Nhật giữa Mặt trận Việt Minh và OSS, Patti đã có ấn tượng sâu sắc và cảm tình đặc biệt trước trí tuệ uyên bác và phong cách ngoại giao giản dị mà đầy sức thuyết phục của Hồ Chí Minh.

Ông kể lại: “Mặc dù tôi đã tỏ ra khách quan và thận trọng một cách cố ý, không để mình dính vào những khía cạnh chính trị của vấn đề Đông Dương, nhưng sự chân thành, thái độ thực dụng và sự hùng biện của ông Hồ đã gây cho tôi một ấn tượng khó phai mờ được. Ông Hồ không hiện lên đối với tôi như một nhà cách mạng không thực tế hay một người cấp tiến cuồng nhiệt, theo đuổi những lời nói rập khuôn, hét to đường lối của đảng, hay thiên về phá hoại mà không có kế hoạch xây dựng lại. Đó là một con người thông minh, thấu hiểu những vấn đề của đất nước mình, một con người biết điều và tinh tế"... Và chính ấn tượng tốt đẹp này đã dẫn đến những sự hợp tác hết sức nhiệt thành và hiệu quả trong các hoạt động phối hợp chống phát xít Nhật giữa Mặt trận Việt Minh và tổ chức OSS.

Sau khi viết xong bản Tuyên ngôn độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh dành cho Archimedes Patti vinh dự được làm người đầu tiên nghe toàn văn văn kiện đặc biệt này trước khi Người công bố với quốc dân và thế giới.

Trong cuốn “Why Viet Nam?”, A.Patti đã viết: “Hồ Chí Minh nói rằng “đã phải làm quá nhiều việc trong một thời gian rất ngắn. Đã có một ủy ban để soạn thảo lời tuyên thệ nhận chức của ông và các bộ trưởng, nhưng bản thảo bản Tuyên ngôn Độc lập còn cần phải được làm xong gấp”. Theo ông, chính đó là một trong những lý do ông muốn gặp tôi. Ông gọi một người ở buồng bên mang bản thảo tới và đưa cho tôi với một dáng thỏa mãn. Rõ ràng trong việc khởi thảo bản này đã có bàn tay già dặn của ông. Bản tài liệu đánh máy bằng tiếng Việt Nam, có nhiều chữ bị xóa và được viết đè lên bằng bút mực, với nhiều ghi chú bên lề. Tôi ngây ra và ông Hồ thấy ngay là tôi không thể đọc được. Ông Hồ cho gọi một người trẻ tuổi vào để dịch và tôi chăm chú nghe. Trong mấy câu đầu, người phiên dịch đã nói lên một số danh từ rất đỗi quen thuộc và giống lạ lùng như bản Tuyên ngôn của chúng ta. Câu tiếp sau là “Lời tuyên bố bất hủ này đã được nêu lên trong Bản Tuyên ngôn Độc lập của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ năm 1776”. Tôi chặn người phiên dịch lại và kinh ngạc quay sang hỏi ông Hồ có thực ông có ý định sử dụng câu đó trong bản tuyên ngôn của ông không... Ông Hồ dựa vào ghế, hai tay úp vào nhau, ngón tay sát vào môi một cách nhẹ nhàng và đang như suy tưởng. Với một nụ cười nhã nhặn, ông hỏi lại tôi một cách dịu dàng: “Tôi không thể dùng câu ấy được à?”. Tôi cảm thấy ngượng ngập và lúng túng. “Tất nhiên”, tôi trả lời, “tại sao lại không?”. Bình tĩnh lại, tôi nói người phiên dịch đọc lại đoạn đó từ đầu một lần nữa. Anh ta đọc: “Tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng..., họ đã được tạo hóa trao cho những quyền không thể nhượng lại được, trong đó có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Cố sức nhớ lại, tôi mới thấy các danh từ đã được chuyển vị và nhận xét là trật tự các chữ “tự do” và “quyền sống” đã bị thay đổi. Ông Hồ nắm ngay lấy và nói “đúng”, không thể có tự do mà không có quyền sống, cũng như không thể có hạnh phúc mà không có tự do”...
 


Đầu tháng 10-1945, OSS giải thể, Archimedes Patti bị triệu hồi về Mỹ. Trước khi Patti lên đường, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành cả một buổi tối để trò chuyện và tâm sự với ông. Buổi chia tay đã để lại trong hồi ức của Patti những ấn tượng không thể phai mờ. Tình cảm tốt đẹp và lòng khâm phục Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người mà hình ảnh từ buổi đầu gặp mặt tới lúc chia tay lần cuối vẫn là “một dáng người mảnh mai nhưng bất khuất”, đã đi suốt cuộc đời Patti và được ông thể hiện trong những trang viết của cuốn hồi ký, trong tham luận tại Hội thảo Quốc tế về “Hồ Chí Minh - Anh hùng Giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới” do UNESCO tổ chức tại Hà Nội năm 1990 và trong những lần đến Việt Nam để gặp lại một ngưòi bạn mà ông rất kính trọng là Đại tướng Võ Nguyên Giáp...

Archimedes Patti sinh tại New York. Ông gia nhập quân đội Hoa Kỳ năm 1941 và trở thành một sĩ quan bộ binh trên chiến trường châu Âu trong Thế chiến II. Cuối năm 1944, ông chuyển sang công tác tại OSS. Sau khi Thế chiến II kết thúc, ông được thăng hàm thiếu tá và được cử làm Trưởng phái bộ tiền trạm của quân đội Hoa Kỳ, thực hiện nhiệm vụ giải cứu tù binh và chuẩn bị cho việc giải giáp quân Nhật tại Bắc Đông Dương.

Về Mỹ cuối năm 1945, ông được thăng hàm trung tá và tiếp tục công tác trong quân đội cho đến khi giải ngũ vào năm 1957. Ông làm việc ở Văn phòng tư pháp của Tổng thống Mỹ đến 1971 thì nghỉ hưu, sống tại Florida.

Do những cống hiến xuất sắc, ông được chính phủ Hoa Kỳ trao tặng huân chương Ngôi sao Đồng với Nhành sồi và khi qua đời ông được an táng tại Nghĩa trang Quốc gia Arlington.