Hà Nội: Đề xuất công trình xây dựng mới phải tự bảo đảm diện tích đỗ xe

Nhà đất | 09:36 Thứ Hai ngày 03/07/2017
(HNMO) – Theo “Hướng dẫn xác định quy mô xây dựng tầng hầm phục vụ đỗ xe đối với các dự án đầu tư xây dựng trên địa bàn TP Hà Nội” do UBND TP Hà Nội trình HĐND xem xét tại kỳ họp thứ 4 HĐND TP khóa XV ngày 3-7, các công trình xây dựng mới phải tự bảo đảm diện tích đỗ xe theo Quy chuẩn xây dựng Việt Nam, tiêu chuẩn thiết kế hiện hành và các quy định có liên quan của Bộ Xây dựng.


Theo số liệu thống kê của UBND TP Hà Nội, thành phố hiện có trên 5,5 triệu phương tiện giao thông, trong đó có khoảng 5 triệu xe máy và khoảng 540.000 xe ô tô. Tính trung bình trong 5 năm (từ 2012 đến 2016), tỷ lệ gia tăng phương tiện hàng năm bình quân khoảng 4,6%. Hiện tại, số lượng và diện tích các bãi đỗ xe trên địa bàn TP rất thiếu. Khu vực trung tâm có khoảng 590 bãi đỗ xe, điểm đỗ xe tập trung với tổng diện tích 37,88 ha, đáp ứng được khoảng 8-10% nhu cầu đỗ xe, các bãi đỗ xe tập trung đều đang trong tình trạng quá tải.

Theo định hướng quy hoạch, mạng lưới bãi đỗ xe công cộng đã được nghiên cứu xây dựng theo hướng nhiều tầng, tăng diện tích sàn sử dụng đỗ xe, nâng cao hiệu quả sử dụng đất. Tuy nhiên, do quỹ đất xây dựng hạn chế, tổng công suất các bãi đỗ xe công cộng mới đáp ứng được khoảng 66% nhu cầu đỗ xe của TP, nhu cầu còn lại cần phân bổ vào đất xây dựng mới của đơn vị và các công trình xây dựng (công cộng, dịch vụ, hỗn hợp, trụ sở, trường đào tạo, nhà ở cao tầng...). Việc phân bổ nhu cầu diện tích đỗ xe vào đất đơn vị và các công trình xây dựng mới hiện nay cũng đang được tính toán trong nghiên cứu của đồ án Quy hoạch bến xe, bãi đỗ xe, trung tâm tiếp vận và trạm dừng nghỉ trên địa bàn TP Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Vì vậy, việc xây dựng tầng hầm phục vụ đỗ xe đối với các dự án đầu tư xây dựng trên địa bàn TP Hà Nội là nhằm bổ sung diện tích đỗ xe công cộng tại các tầng hầm của các dự án đầu tư xây dựng công trình mới, bảo đảm đáp ứng nhu cầu đỗ xe của bản thân dự án và đỗ xe công cộng, từng bước xóa bỏ tình trạng sử dụng lòng đường, vỉa hè làm nơi đỗ xe, dành không gian trên mặt đất cho các nhu cầu sử dụng công cộng của người dân, hướng tới phát triển Thủ đô Hà Nội xanh – văn hiến, văn minh, hiện đại.

Về nguyên tắc tính toán, việc xác định quy mô xây dựng tầng hầm đỗ xe của công trình chỉ giải quyết đối với nhu cầu đỗ xe ô tô con, xe đạp, xe máy; không tính toán và giải quyết nhu cầu của xe tải, xe khách do đã bố trí tại các bến xe của TP. Số liệu phương tiện được tính toán dựa trên dự báo về quy mô dân số, hệ số đi lại, nhu cầu phát sinh chuyến đi và tỷ lệ thị phần các phương tiện vận tải theo định hướng quy hoạch đã được phê duyệt.

Các công trình xây dựng mới phải tự bảo đảm diện tích đỗ xe theo Quy chuẩn xây dựng Việt Nam, tiêu chuẩn thiết kế hiện hành và các quy định có liên quan của Bộ Xây dựng, đồng thời nghiên cứu bố trí diện tích đỗ xe công cộng của khu vực tùy theo tính chất, công năng của công trình, quy mô, vị trí thực hiện dự án.

Cụ thể, dự án xây dựng mới trên địa bàn TP xác định diện tích tầng hầm đỗ xe theo tỷ trọng % hoặc theo chỉ tiêu diện tích (m2) sàn đỗ xe so với diện tích sàn sử dụng công trình theo các số liệu như sau:

- Công trình công cộng: Trong khu vực nội đô lịch sử: Tỷ trọng: 26%, diện tích (m2 đỗ xe/100 m2 sàn sử dụng): 37 m2; Trong khu vực nội đô mở rộng và phát triển mới: Tỷ trọng: 21%, diện tích (m2 đỗ xe/100 m2 sàn sử dụng): 30 m2; Tại các đô thị vệ tinh, đô thị sinh thái: Tỷ trọng: 18%, diện tích (m2 đỗ xe/100 m2 sàn sử dụng): 25 m2.

- Công trình hỗn hợp: Trong khu vực nội đô lịch sử: Tỷ trọng: 24%, diện tích (m2 đỗ xe/100 m2 sàn sử dụng): 34 m2; Trong khu vực nội đô mở rộng và phát triển mới: Tỷ trọng: 19%, diện tích (m2 đỗ xe/100 m2 sàn sử dụng): 27 m2; Tại các đô thị vệ tinh, đô thị sinh thái: Tỷ trọng: 16%, diện tích (m2 đỗ xe/100 m2 sàn sử dụng): 23 m2.

- Đất ở: Trong khu vực nội đô lịch sử: Tỷ trọng: 22%, diện tích (m2 đỗ xe/100 m2 sàn sử dụng): 31 m2; Trong khu vực nội đô mở rộng và phát triển mới: Tỷ trọng: 17%, diện tích (m2 đỗ xe/100 m2 sàn sử dụng): 24 m2; Tại các đô thị vệ tinh, đô thị sinh thái: Tỷ trọng: 14%, diện tích (m2 đỗ xe/100 m2 sàn sử dụng): 20 m2.

- Các cơ quan, trường đào tạo: Trong khu vực nội đô lịch sử: Tỷ trọng: 17%, diện tích (m2 đỗ xe/100 m2 sàn sử dụng): 24 m2; Trong khu vực nội đô mở rộng và phát triển mới: Tỷ trọng: 12%, diện tích (m2 đỗ xe/100 m2 sàn sử dụng): 17 m2; Tại các đô thị vệ tinh, đô thị sinh thái: Tỷ trọng: 9%, diện tích (m2 đỗ xe/100 m2 sàn sử dụng): 13 m2.
Bình Minh
Bình luận
Gõ tiếng Việt có dấu, tối thiểu 15 chữ
Thông báo