Vì lợi ích của dân tộc!

Xây dựng Đảng | 19:25 Thứ Năm ngày 15/02/2018
(HNM) - Chống quan liêu, tham nhũng để xây dựng chính quyền cách mạng trong sạch, vững mạnh là mục tiêu xuyên suốt của tư tưởng Hồ Chí Minh. Theo Bác, chống tham nhũng bằng “đức trị” kết hợp “pháp trị” chỉ là phương thức, còn mục đích duy nhất, cao nhất là vì lợi ích của dân tộc và Tổ quốc.

Khi viết tác phẩm Đường kách mệnh chuẩn bị cho đội tiên phong của giai cấp và dân tộc ra đời, Bác đã đặt lên hàng đầu tư cách của một người cách mạng, như cần kiệm, vị công vong tư, ít lòng tham muốn về vật chất… Tư cách của một người cách mạng tức là tư cách của một người có trình độ cao, nhưng vẫn trên cái nền “làm người”; đổ vỡ tư cách làm người, thiếu nhân tính là đổ vỡ tất cả. Tư cách của một người cách mạng được viết ra cách đây hơn 90 năm vẫn là thông điệp có tính thời sự nóng hổi hôm nay. Một người khi đã xác định đi vào con đường cách mạng thật sự vì nước, vì dân thì trước hết và xuyên suốt phải có đạo đức cách mạng, cao nhất là chí công vô tư.

Ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công, ý thức được ý nghĩa to lớn, sâu xa của chế độ Dân chủ Cộng hòa và sự nguy hại của những căn bệnh khi Đảng trở thành Đảng cầm quyền, chỉ trong chưa đầy một tháng, Bác có nhiều bài viết đăng trên Báo Cứu quốc chỉ rõ, một trong những khuyết điểm to nhất lúc bấy giờ là hủ hóa, tức là ăn muốn cho ngon, mặc muốn cho đẹp, càng ngày càng xa xỉ... Thậm chí lấy của công dùng vào việc tư, quên cả thanh liêm, đạo đức. Ông ủy viên đi xe hơi, rồi bà ủy viên, cho đến các cô các cậu ủy viên, cũng dùng xe hơi của công. Khi nắm được chút quyền hành trong tay là hay lạm dụng và “dĩ công dinh tư”.

Để chống tham nhũng, ngày 23-11-1945, Bác Hồ ký Sắc lệnh 64-SL về việc thành lập Ban Thanh tra đặc biệt và một tòa án đặc biệt có nhiệm vụ giám sát và xét xử các sai phạm của các nhân viên từ trong các UBND các cấp đến các bộ. Một số điều chủ yếu trong Sắc lệnh là:

Điều thứ nhất: Ban Thanh tra đặc biệt có ủy nhiệm là đi giám sát tất cả các công việc và các nhân viên của các UBND, các Ủy ban của Chính phủ.

Điều thứ hai: Ban Thanh tra đặc biệt có toàn quyền nhận các đơn khiếu nại của nhân dân. Điều tra, hỏi chứng, xem xét các tài liệu giấy tờ của các UBND hoặc cơ quan Chính phủ. Đình chức, bắt giam bất cứ nhân viên nào trong UBND hay của Chính phủ đã phạm lỗi. Tịch biên hoặc niêm phong các tang vật và dùng mọi cách điều tra để lập hồ sơ mang phạm nhân ra tòa án đặc biệt.

Điều thứ ba: Lập ngay tại Hà Nội một tòa án đặc biệt để xử các nhân viên của các UBND hay cơ quan của Chính phủ do Ban Thanh tra truy tố.

Điều thứ tư: Tòa án đặc biệt có toàn quyền định án, có thể tuyên án tử hình. Những án tuyên sẽ thi hành trong 48 giờ.

Điều đặc biệt khi lập Ban Thanh tra là Bác không chọn nhiều người mà chọn “cán bộ thanh tra như chọn cái gương để người ta soi mặt, gương mờ thì không soi được”. Một điểm nữa là Ban Thanh tra có quyền lực tối cao, không phụ thuộc vào các cấp chính quyền, để thanh tra khách quan, chính xác, không lọt lưới.

Trong tháng đầu năm 1946, có bốn sự kiện thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Bác Hồ đối với công tác phòng, chống tham nhũng. Thứ nhất, ngày 5-1-1946, phát biểu trong buổi lễ ra mắt ứng cử viên tổ chức tại Việt Nam học xá, Người nhấn mạnh: “Làm việc nước bây giờ là hy sinh, là phấn đấu, quên lợi riêng mà nghĩ lợi chung. Những ai muốn làm quan cách mạng thì nhất định không bầu”.

Thứ hai, trả lời các nhà báo nước ngoài (ngày 21-1-1946), khi nói đến đảng viên của Đảng - lúc đó Người gọi là Đảng Dân tộc Việt Nam - Bác khẳng định “sẽ là tất cả quốc dân Việt Nam, trừ những kẻ phản quốc và những kẻ tham ô ra ngoài”. Người đặt kẻ tham ô ngang hàng với kẻ phản quốc, hai loại người này đều không được đứng trong hàng ngũ của Đảng và nằm trong khung hình phạt tử hình.

Riêng phần mình, Người khẳng định “không dính líu gì với vòng danh lợi”. Thứ ba, trong quốc lệnh 10 điểm thưởng và 10 điểm phạt (ngày 26-1-1946), ghi rõ: “Trộm cắp của công sẽ bị xử tử”. Thứ tư, khi viết bài Tự phê bình đăng Báo Cứu quốc, số 153, ngày 28-1-1946, trăn trở với nền độc lập, tự do của Tổ quốc, khẳng định trách nhiệm không để phụ lòng đồng bào, Bác đã thẳng thắn chỉ ra rằng “tuy nhiều người trong ban hành chính làm việc tốt và thanh liêm, song cái tệ tham ô, nhũng lạm chưa quét sạch”.

Bác Hồ chống tham nhũng trước hết và xuyên suốt xuất phát từ tấm lòng chí công vô tư. Trước khi thành lập Chính phủ mới vào cuối tháng 10-1946, Người tuyên bố trước Quốc hội: “Hồ Chí Minh không phải là kẻ tham quyền cố vị, mong được thăng quan phát tài”. Lời tuyên bố của Người trước cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất nhằm chặn đứng hành vi tham nhũng quyền lực. Đó không chỉ là tuyên ngôn mà thực tế là một tấm gương sáng đến tận phút cuối đời của người đứng đầu Chính phủ.

Trong lời tuyên bố đó, Người còn nói rõ “tuy trong quyết nghị không nói đến, không nêu lên hai chữ liêm khiết, tôi cũng xin tuyên bố trước Quốc hội, trước quốc dân và trước thế giới: Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ liêm khiết”. Cũng tại kỳ họp này, có đại biểu Quốc hội đã chất vấn trường hợp Bộ trưởng Bộ Kinh tế Chu Bá Phượng trong phái đoàn Chính phủ đi dự Hội nghị Phôngtennơblô, mang vàng đi buôn lậu, bị các nhà chức trách Pháp bắt. Bác Hồ đã thay mặt Chính phủ trả lời thẳng thắn: Chính phủ hiện thời đã cố gắng liêm khiết lắm. Nhưng trong Chính phủ, từ Hồ Chí Minh đến những người làm việc ở các Ủy ban làng, đông lắm, phức tạp lắm. Dù sao Chính phủ đã hết sức làm gương, và nếu làm gương không xong, thì sẽ dùng pháp luật mà trị những kẻ ăn hối lộ. Đã trị, đang trị và sẽ trị cho kỳ hết.

Giữ đúng lời hứa trước Quốc hội, ngày 27-11-1946, Bác Hồ ký Sắc lệnh 223 ấn định hình phạt đối với tội đưa và nhận hối lộ, biển thủ công quỹ, tài sản công cộng. Riêng tội đưa và nhận hối lộ, sẽ bị phạt từ 5 đến 20 năm khổ sai và phải nộp phạt gấp đôi số tiền nhận hối lộ.

Theo Bác, chống tham nhũng phải kết hợp chặt chẽ “đức trị” với “pháp trị”. Cái khó nhất và cũng cần thiết nhất khi thi hành pháp luật là tính vô tư, khách quan, công bằng, bình đẳng đối với mọi công dân trước pháp luật. Cuối năm 1945, trao nhiệm vụ cho Lê Giản phụ trách ngành Công an, Bác căn dặn “chú phải thiết diện vô tư (mặt sắt, không thiên vị). Chú làm cái nghề này mà không thiết diện vô tư thì Bác sẽ thiết diện vô tư với chú”. Với cái tâm trong sáng, không gợn chức quyền, danh lợi bản thân, Người đòi hỏi pháp luật của ta “phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào và làm nghề nghiệp gì.

Chống tham nhũng bằng “đức trị” kết hợp “pháp trị” chỉ là phương thức, còn mục đích duy nhất, cao nhất là vì lợi ích của dân tộc và Tổ quốc. Vì vậy, theo Bác là phải đề cao phép nước. Tư tưởng, việc làm nào hại đến tính mạng và tài sản của nhân dân, làm mất uy tín của Đảng và Nhà nước, liên quan đến sự mất còn của chế độ thì phải được xử nghiêm theo đúng pháp luật. Trong kháng chiến chống Pháp, Bác Hồ đã ký lệnh bác đơn chống án của Trần Dụ Châu, Đại tá, Cục trưởng Cục Quân nhu, bị khởi tố vì lợi dụng chức vụ bớt xén cơm, áo của bộ đội, để sống phè phỡn, trụy lạc, ảnh hưởng đến cuộc kháng chiến và uy tín của Chính phủ, bị Tòa án Quân sự kết án tử hình.

Bác Hồ chống tham nhũng bằng nhiều biện pháp tích cực khác nhau. Cùng với yêu cầu về tính nghiêm minh của luật pháp; giáo dục và tự giáo dục của cán bộ, đảng viên; người đứng đầu gương mẫu, thì một biện pháp cực kỳ quan trọng và hiệu quả, đó là nhân dân tham gia giám sát công việc của Đảng và Chính phủ. Khi chỉ ra trong Chính phủ có người làm quan cách mạng, chợ đỏ chợ đen, khinh dân, mưu vinh thân phì gia, Bác Hồ “xin đồng bào hãy phê bình, giúp đỡ giám sát công việc của Chính phủ”. Theo Người, quần chúng kiểm soát sự sai lầm của người lãnh đạo - kiểm soát từ dưới lên - là cách tốt nhất.

Để cho dân chúng phê bình cán bộ, dựa theo ý kiến họ mà cất nhắc cán bộ, nhất định không xảy ra việc thiên tư, thiên vị, nhất định hợp lý và công bằng. Đồng thời phải gây nên một phong trào quần chúng gớm ghét, bao vây lũ giặc tham nhũng như Lênin đã chỉ ra. Theo Người, “chúng ta phải phát động tư tưởng của quần chúng, làm cho quần chúng khinh ghét tội tham ô, lãng phí, quan liêu; biến hàng ức, hàng triệu con mắt, lỗ tai cảnh giác của quần chúng thành những ngọn đèn pha soi sáng khắp mọi nơi, không để cho tệ tham ô, lãng phí, quan liêu còn chỗ ẩn nấp”.
*
* *
Sau hơn 30 năm đổi mới, bên cạnh những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, chúng ta đang phải đối mặt với tình trạng tham nhũng vẫn còn nghiêm trọng, tập trung vào một số đảng viên có chức vụ trong bộ máy nhà nước. Lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn được giao để dung túng, bao che, tiếp tay cho tham nhũng, tiêu cực; núp dưới cái vỏ “đúng quy trình” để bổ nhiệm người thân, người quen, người nhà dù không đủ tiêu chuẩn, điều kiện giữ chức vụ lãnh đạo. Tình hình đó làm giảm sút vai trò lãnh đạo của Đảng, làm tổn thương tình cảm và suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, là một nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ. Phải kiên quyết, kiên trì, quyết liệt chống tham nhũng bằng nhiều giải pháp đồng bộ, “xây” đi đôi với “chống” với quyết tâm chính trị cao, nói thật, làm thật theo đúng tư tưởng, tấm gương của Bác Hồ.

Truy tố, xét xử các vụ án tham nhũng là rất cần thiết, phải làm nghiêm, riết ráo, triệt để hơn nữa, đặc biệt là các vụ đại án liên quan đến cán bộ có chức to, quyền lớn. Khi bàn về chống tham ô, Bác Hồ đã nhắc lại lời Lênin viết năm 1918 về việc xử nhẹ một vụ ăn hối lộ: “Không xử bắn lũ ăn của đút lót, mà xử một cách pha trò, mềm mỏng nhẹ nhàng như vậy - đó là một điều xấu hổ cho những người đảng viên cộng sản, cho những người cách mạng. Cần phải nêu những đồng chí đã ăn hối lộ ra để cho dư luận quở trách và cần phải đuổi họ ra khỏi Đảng” (Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t.7, tr.364). Và Lênin đề nghị phải có một đạo luật để trừng trị những vụ hối lộ (ăn hối lộ, tặng hối lộ và những cách hối lộ khác). Ít nhất cũng phải phạt 10 năm giam cầm và 10 năm khổ sai.

Tuy nhiên, điều quan trọng hơn trong cuộc chiến chống tham nhũng hiện nay là phải tập trung vào hai nhóm giải pháp chính, đó là tạo cơ chế, tính khoa học của bộ máy, cơ bản nhất là nền dân chủ và sự tu dưỡng ý thức, đạo đức của cán bộ, đảng viên. Hai “chân” của sự nghiệp chống tham nhũng đó phải chắc, khỏe, đi đều, làm sao cho quan chức không dám tham nhũng, không thể tham nhũng, không cần tham nhũng và không muốn tham nhũng.
PGS.TS Bùi Đình Phong
Bình luận
Gõ tiếng Việt có dấu, tối thiểu 15 chữ
Thông báo