“Đánh thuế nước giải khát và xu hướng tại Châu Âu”

Kinh tế | 07:16 Thứ Tư ngày 28/03/2018
(HNM) - Bộ Tài chính đang hoàn thiện dự thảo sửa đổi, bổ sung luật thuế Tiêu thụ đặc biệt (TTĐB), trong đó mở rộng đối tượng chịu thuế, đưa nước ngọt có đường vào đối tượng chịu thuế TTĐB với mức thuế suất 10% áp dụng từ năm 2019. Nếu dự luật thuế này được thông qua, người tiêu dùng sẽ phải trả thuế tương ứng với 22% trị giá của mỗi sản phẩm nước ngọt (bao gồm 12% thuế giá trị gia tăng và 10% thuế TTĐB).

Mục tiêu bảo vệ sức khoẻ của người tiêu dùng là đúng đắn. Tuy nhiên, việc tăng thuế không bảo đảm sẽ có tác động tích cực đối với sức khoẻ. Kinh nghiệm ở một số nước trên thế giới đã chỉ ra rằng thuế không phải là giải pháp cho tăng cường sức khoẻ. Một số nước ở châu Âu đã từng áp dụng chính sách thuế đặc biệt đối với nước ngọt nhiều năm đã phải thay đổi. Đan Mạch, một trong những nước đầu tiên trên thế giới áp thuế TTĐB đối với nước ngọt. Chính sách thuế này được ban hành từ năm 1930, tuy nhiên, sau 83 năm áp dụng, Đan Mạch đã cắt giảm một nửa thuế TTĐB đối với nước ngọt vào tháng 7-2013, và bãi bỏ hoàn toàn vào ngày 1-1-2014, đồng thời bãi bỏ cả chính sách thuế TTĐB đối với các thực phẩm chứa đường khác trên diện rộng. Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp tuyên bố rằng việc áp thuế là không hiệu quả và Chính phủ sẽ thử các biện pháp khác để cải thiện sức khoẻ cộng đồng, ví dụ như tuyên truyền, giáo dục.

Theo thống kê của Canadean (một công ty chuyên nghiên cứu thị trường về ngành hàng tiêu dùng nhanh (FMCG) của tổ chức GlobalData, trụ sở tại Anh Quốc), mức độ tiêu thụ nước ngọt tại Đan Mạch đã giảm nhẹ trong năm 2008 và 2009, nhưng tăng trở lại trong năm 2010 (năm mà nước ngọt có đường đã bị đánh thuế cao hơn). Tuy nhiên, Euromonitor, tổ chức chuyên về nghiên cứu và đánh giá thị trường, “trong giai đoạn dẫn đến quyết định bãi bỏ thuế, một lượng lớn người tiêu dùng Đan Mạch đã mua sắm qua biên giới tại Đức để tránh thuế đối với nước giải khát và thực phẩm có chất béo”. Như vậy, giá thành cao hơn sẽ không dẫn đến thay đổi hành vi, nhưng sẽ tác động đến chi tiêu và thu nhập của người nghèo nói riêng.

Từ 2008 đến 2014, giai đoạn trước và sau khi thuế nước ngọt bị bãi bỏ, chỉ số khối cơ thể (BMI) bình quân toàn quốc qua từng năm của Đan Mạch đều có cùng mức độ như nhau (BMI nam giới bình quân là 25.8 từ năm 2008 đến 2010, 25.9 từ 2010 đến 2013, và 26 vào 2016. BMI nữ giới bình quân là 24.5 qua 7 năm). Điều này đồng nghĩa, thuế không ảnh hưởng đến chứng béo phì và các vấn đề sức khỏe.

Chính phủ Đan Mạch kết luận, thuế có “tác động không đáng kể đến thói quen tiêu dùng” và do đó hầu như không ảnh hưởng đến sức khoẻ cộng đồng. Vì thuế có ảnh hưởng ít hoặc không có ảnh hưởng đến thói quen ăn uống của người tiêu dùng, nên Chính phủ đã quyết định bãi bỏ thuế này.

Ông Alain Beaumont, Tổng thư ký của Liên hiệp hội Đồ uống Châu Âu UNESDA, cho biết: “Xu hướng thuế đối với ngành nước giải khát đang suy giảm và được các Chính phủ và quốc hội đồng tình trên khắp châu Âu, do đã không chứng minh được những mục tiêu về sức khoẻ cộng đồng và còn phá hủy công ăn việc làm và giá trị kinh tế.”

Báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới WHO tại Hội thảo kỹ thuật dành cho chuyên gia toàn cầu, được tổ chức tháng 5 năm 2015 tại Geneva, với chủ đề “Chính sách tài khóa đối với chế độ ăn uống và phòng ngừa các bệnh không lây nhiễm” đã chỉ ra các khía cạnh kỹ thuật trong thiết kế và thực hiện chính sách một cách hiệu quả đối với sức khỏe và chế độ dinh dưỡng, để các quốc gia thành viên cân nhắc về phạm vi, phương thức thiết kế và thực hiện chính sách của nước mình.

Theo WHO, những bài học kinh nghiệm rút ra từ trường hợp của Đan Mạch là: các mục tiêu y tế cần phải được đánh giá đầy đủ trước khi ban hành thuế, bao gồm cả việc đo lường các tác động thay thế và các tác động bất lợi. Các chuyên gia và tổ chức y tế cần được tham vấn trong quá trình thiết kế chính sách thuế để đảm bảo tiếng nói chung. Tổng thể hiệu quả xã hội và các đóng góp cho nền kinh tế cần được đánh giá toàn diện. Tính chống phân biệt đối xử, chống cạnh tranh của thuế phải được phân tích trước khi thực hiện. Thiết kế chính sách thuế phải rõ ràng và hợp lý dựa trên các nguyên tắc, lý do rõ ràng về sức khỏe cộng đồng.

Báo cáo cũng đưa ra khung thiết kế và thực hành chính sách tài khóa gồm có 4 bước: Đánh giá, Thiết kế, Thực thi và Đo lường. Trong đó, tại khâu đánh giá, cần thiết phải nghiên cứu toàn diện về hiệu quả kinh tế, y tế, tác động đến ngành công nghiệp, mục tiêu của chính sách (đối với sức khỏe và kinh tế). Tại khâu thiết kế, trước khi sử dụng đến các công cụ chính sách thuế, cần xác định nhận thức, giáo dục và hỗ trợ cộng đồng như một giải pháp tương đương.

Tại Việt Nam hiện có 134 doanh nghiệp nước ngoài và nội địa đang sản xuất nước giải khát. Năm 2016, toàn ngành đóng góp cho ngân sách khoảng 48,000 tỷ đồng, chiếm 2,5% ngân sách nhà nước đứng thứ 2 sau ngành dầu khí. Khi một dự luật có khả năng gây ra những tác động lớn đến một ngành sản xuất và đông đảo người tiêu dùng, trong khi hiệu quả chưa được chứng minh, thì Chính phủ không nên nóng vội, cần nghiên cứu kỹ lưỡng, cẩn thận, khoa học về những tác động của dự luật này và so sánh với những hiệu quả có thể mang lại trước khi quyết định thông qua.
Hoàng Kiên
Bình luận
Gõ tiếng Việt có dấu, tối thiểu 15 chữ
Thông báo