Càng giáp Tết, làng nghề truyền thống làm bánh chưng Tranh Khúc càng rộn ràng, tất bật. Thế nhưng, không phải ai cũng biết, để làm nên những chiếc bánh chứa đựng văn hóa truyền thống và nức tiếng ấy, còn có những mảnh ghép khác...

Thôn Tràng Cát (xã Kim An, huyện Thanh Oai, cách trung tâm thành phố khoảng 20km) vốn nổi tiếng với nghề trồng dong lấy lá từ bao đời nay. Đến đây trong những ngày giữa tháng Chạp, người bỗng thấy nhẹ nhõm, sảng khoái khi tràn ngập không gian là một màu xanh tươi của bạt ngàn lá dong.

Lá dong năm nay được giá nên những người lao động trong thôn vui ra mặt. Trong sân của mỗi nhà đều có những nhóm 5-7 người cùng làm, họ vui vẻ trò chuyện bên cạnh những bó lá được xếp ngay ngắn, sạch sẽ.

Bà Phan Văn Tú là một trong nhiều người dân ở Tràng Cát gắn bó với cây dong từ tấm bé. Dù đã tuổi ngũ tuần nhưng bà Tú làm việc luôn chân luôn tay. Bằng giọng nói dõng dạc, bà Tú kể rõ ràng về tuổi thơ trong gia đình có truyền thống trồng dong.

Không ai biết cây dong lá có từ thuở nào nhưng bà Tú cũng như những người dân nơi đây đã gắn liền với nghề từ bé và cứ thế truyền thụ cho con, cháu. Hầu như toàn bộ 300 hộ dân ở khu vực bãi bồi sông Đáy này đều trồng cây dong lấy lá.

“Các gia đình ở đây dù không trồng nhiều để bán thì cũng phải trồng vài vạt để cuối năm cùng quây quần gói bánh chưng, lưu giữ nét đẹp Tết truyền thống của dân tộc”, bà Tú cho biết.

Dù thu nhập từ việc trồng dong lá không thấm vào đâu so với công sức lao động triền miên cả năm nhưng người dân vẫn không từ bỏ. Dong lá trong làng vẫn được trồng và thu hoạch 3-4 vụ mỗi năm, song mỗi dịp Tết, lượng sản xuất lá dong phải tăng gấp 7-8 lần so với ngày thường, nhiều nhà phải thuê thêm nhân công để bảo đảm tiến độ. Người dân bắt đầu thu hoạch lá từ 12 tháng Chạp và bán đến hết ngày 29 Tết.

Tuy nhiên, thời điểm bận bịu nhất là từ rằm tháng Chạp trở đi khi người mua tấp nập đến và đi do nhu cầu mua lá dong về làm bánh chưng tăng cao. Trước đây, người nông dân rất vất vả vì ngoài việc thu hoạch còn phải chạy xe đi khắp nơi để giao hàng nhưng đến nay khi lá dong Tràng Cát đã trở thành “thương hiệu” thì từ khắp các nơi lại đổ về để mua được những tấm lá dong với bầu lá tròn mập, xanh mướt với độ dai vừa đủ.

“Cũng giống như con gái thích mặc quần áo đẹp, bánh chưng cũng phải có lớp lá bên ngoài tươi xanh. Như vậy, những lá rơm đầu sẽ được xử lý và dùng để làm lớp gói lót trong khi những chiếc lá tươi nhất sẽ được bọc bên lớp trong cùng và lớp ngoài cùng của bánh chưng”, bà Tú chia sẻ.

Cũng nhờ những sự trau chuốt trong từng công đoạn mà lá dong Tràng Cát luôn có màu sáng, tàu lá sạch sẽ không vương bụi bẩn. Nhiều năm nay, lá dong Tràng Cát còn được đưa đi khắp các nước phục vụ kiều bào xa quê hương gói bánh chưng đón Tết.

Trái ngược với sự náo nhiệt bên thôn Tràng Cát, nhịp điệu sinh hoạt của người dân làng Lê Xá (xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, Hà Nội) vốn nổi tiếng về nghề chẻ lạt truyền thống lại có phần chậm rãi và khép kín hơn. Những tưởng sẽ thấy những nhóm người lao động cùng chặt giang, chẻ lạt tại những ngôi nhà dọc làng nhưng từ cổng làng vào lại là những căn nhà đóng cửa kín đáo, không có nhiều người lại qua. Họa hoằn mới thấy những ống giang hay những bó lạt trắng ngà được xếp hoặc treo trước cửa nhà.

Cụ Đỗ Thị Tịch (87 tuổi), một trong số ít những “lão làng” vẫn gắn bó với nghề, đang ngồi khom lưng dưới gốc đa, miệt mài cạo vỏ cho ống giang. Dù đã ở tuổi xưa nay hiếm, các bước chẻ lạt cụ làm vẫn gọn gàng đâu vào đấy.

Cụ Tịch làm nông từ khi mới 17 tuổi, đã 70 năm trôi qua, không thể đếm xuể số lạt cụ từng chẻ nhưng hằn sâu trên đôi bàn tay đen đúa là những vết chai sạn sần lên qua năm tháng. Đôi tay của cụ là điển hình cho đôi tay người làng Lê Xá trước đây.

Tay chẻ lạt thoăn thoắt, cụ Tịch tâm sự: “Tôi tiếp nối nghề này từ truyền thống gia đình, giờ có tuổi rồi nên thường ngày đi bán chổi, những dịp Tết về lại đi chẻ lạt thuê để có thêm đồng ra đồng vào”. Hiện tại, mỗi ngày, cụ chỉ có thể làm từ 10 đến 20 ống, mỗi ống tùy độ lớn bé mà có thể chẻ được khoảng 100 đến 200 lạt. Việc chẻ lạt phải diễn ra nhanh chóng vì nếu để lâu, ống giang sẽ bị héo khô. Lạt tiêu chuẩn phải khô có màu trắng, độ dẻo dai mà có thể cầm xoắn thành nhiều vòng mà không bị đứt.

Hồi tưởng về những ngày xưa cũ, cụ Tịch kể, cứ dịp Tết đến xuân về, dân làng Lê Xá lại tất bật với những công việc của một làng nghề. “Không khí ngày ấy vui vẻ biết bao, trong làng ngoài xóm đều là những tiếng kì cọt cạo vỏ, chẻ giang, tước lạt, mọi người cùng làm việc cùng trò chuyện mà ngày dài trôi qua lúc nào không hay”, cụ Tịch nói với giọng tiếc nuối. Tuy nhiên, giờ đây, người trẻ trong làng không còn mấy thiết tha với nghề nữa, công việc này chủ yếu do những người tuổi từ 60 đến 70 đảm nhận.

Ở làng Lê Xá bây giờ, những người như cụ Tịch ngày càng hiếm. Và họ chỉ còn làm nghề như một thói quen. Họ trăn trở rồi mai đây nghề này sẽ mai một dần vì thu nhập từ nghề chỉ là một khoản thêm thắt trong khi cuộc sống ngày càng đắt đỏ, còn bọn trẻ được ăn học đầy đủ thì ngại động tay, động chân.

Không khí lao động ở làng Tranh Khúc (thuộc xã Duyên Hà, huyện Thanh Trì, Hà Nội) vào dịp cuối năm “nóng” hơn so với làng “dong lá” và làng “chẻ lạt” với nhiều xưởng gói bánh chưng tấp nập người làm, người nhận hàng. Những chiếc bánh chưng vuông chằn chặn, đều đặn ra lò mỗi ngày được vận chuyển tới nhiều siêu thị và chợ ở khắp nơi.

Tại khoảng sân rộng, thoáng đãng trong xưởng bánh của bà Lý Thị Thiệp (60 tuổi), 12 người chia nhau ra làm các công đoạn như nhúng lá dong vào thuyền nước, rửa lá dong, xếp lá dong, cân đo thịt lợn, đỗ xanh và gạo nếp, gói bánh chưng, buộc bánh chưng, luộc bánh… Dù khối lượng công việc lớn nhưng nhóm người phối hợp với nhau rất nhuần nhuyễn và nhanh lẹ vì đã quá quen thuộc với công việc.

Bà Thiệp bắt đầu làm nghề từ năm 16 tuổi và tiếp nối theo truyền thống làm bánh của gia đình. Dù sản xuất hàng chục ngàn bánh chưng mỗi dịp tết nhưng chất lượng bánh luôn phải đảm bảo vì đây là thương hiệu và cũng là cái tâm của người làm nghề.

Bà Thiệp cho biết, muốn bánh chưng đẹp, người thực hiện công việc sắp lá dong phải thật chuẩn chỉ, sắp đều và hợp lí để khi gói có thể bẻ lá cho vừa tay. Công đoạn khó nhất là gói bánh chưng, yêu cầu người thợ phải gấp bánh dứt khoát, lực tay tác động vừa đủ mạnh thì bánh mới vuông. Để có thể gói bánh thành thạo, người làm nghề phải mất nhiều thời gian học hỏi, tập gói liên tục mới có thể đều tay. Một người gói bánh chưng có nghề thường có thể gói được 100 đến 120 chiếc trong vòng 1 tiếng. Việc gói bánh diễn ra tưởng chừng như “nhắm mắt” vẫn có thể cho ra đời những chiếc bánh chưng thật đẹp, thật đều cả về chất lượng lẫn kích cỡ.

Không chỉ xưởng bánh bà Thiệp mà còn nhiều xưởng bánh khác cũng tất bật với công việc gói bánh từ 18 đến 28 tháng Chạp. Nhiều xưởng phải làm thâu đêm suốt sáng để kịp đổ mối buôn với trung bình khoảng 1.500 đến 2.000 bánh trong 1 ngày 1 đêm.

Nghề gói bánh chưng đang chiếm khoảng 40 đến 45% tổng thu nhập của thôn Tranh Khúc. Bánh chưng nơi đây nổi tiếng với độ dẻo, thơm khi người làm bánh cẩn thận lựa chọn nguyên liệu như: Gạo nếp thường chọn loại gạo nếp cái hoa vàng của vùng Hải Hậu, Thái Bình hay Hải Dương; đỗ xanh chọn loại hạt mẩy, thơm và ngậy; thịt lợn có tỷ lệ mỡ và nạc vừa phải. Còn vị bánh chưng cũng tùy thuộc vào công thức gia truyền của từng nhà sản xuất.

Trước kia, nguyên liệu khó kiếm, đắt đỏ nhưng đến nay, việc gói bánh chưng thuận lợi hơn nhờ nguyên liệu có sẵn và sự trợ giúp của máy móc, quy trình sản xuất khép kín. Hiện nay, các xưởng sản xuất thường dùng nồi điện bằng inox để luộc bánh chưng, mất khoảng 8 tiếng để chín bánh chưng bé và 11 tiếng đối với bánh chưng to. Nhờ đó, năng suất vượt trội hơn trước kia và các gia đình không cần tốn nhiều thời gian để ngồi canh nồi bánh chưng như đun bằng lò than hay củi ngày xưa.

Để mở rộng thị trường và có đủ tiêu chuẩn xuất khẩu bánh ra nước ngoài, các xưởng làm bánh cũng nghiên cứu các phương pháp làm bánh mới với các nguyên liệu như nếp cẩm, gấc... Các xưởng còn đầu tư các trang thiết bị hiện đại như máy hút ép chân không nhằm giúp cho việc vận chuyển từ xưởng tới nơi bán hàng được bảo đảm vệ sinh mà vẫn duy trì được chất lượng bánh trong thời gian dài.

Những giá trị quý giá mà cha ông để lại cho con cháu làng Tranh Khúc đến nay vẫn luôn được duy trì và phát triển. Mỗi dịp Tết về, người lớn, trẻ con trên làng dưới xóm đều bắt tay vào công việc. Khói nghi ngút bốc lên từ nồi luộc bánh chưng, mùi thơm ngọt của gạo nếp quyện vào lá dong. Cứ thế, năm nào cũng vậy, mùa xuân luôn gõ cửa làng Trang Khúc sớm hơn so với những nơi khác.

Chiếc bánh chưng tuy nhỏ nhưng lại đòi hỏi nhiều công đoạn chuẩn bị, chế biến cầu kỳ, người làm cũng cần có một sự khéo léo và tỉ mỉ nhất định để có thể làm ra những chiếc bánh chưng đẹp mắt mà thơm ngon. Đi từ Tràng Cát qua Lê Xá rồi đến Tranh Khúc, chúng ta đã có thể tận mắt chứng kiến những “mảnh ghép” tạo thành bức tranh toàn cảnh về chiếc bánh chưng chứa đựng cả quá khứ, hiện tại và tương lai của văn hóa dân tộc.


Bài, ảnh: Tiến Đạt - Quang Thái

Back To Top