|
| Diễn xướng chiêng tha độc đáo của người Brâu |
(HNM) - Đó là câu hỏi chung mà nhiều nhà khoa học trong nước và quốc tế đã nêu ra tại Hội thảo quốc tế “Sự thay đổi đời sống kinh tế, xã hội và bảo tồn cồng chiêng ở Việt Nam và Đông Nam Á” - do Viện Văn hóa nghệ thuật Việt Nam (Bộ VH-TT-DL) phối hợp với UBND tỉnh Gia Lai tổ chức tại TP Pleiku - một hoạt động trong khuôn khổ Festival cồng chiêng quốc tế năm 2009 vừa diễn ra dịp trung tuần tháng 11 vừa qua...
Bài 1- Những mảng sáng- tối
Kiệt tác- di sản của nhân loại
Cùng với Sử thi Tây Nguyên, nhà rông, tượng nhà mồ..., cồng chiêng là một thành tố quan trọng làm nên bản sắc văn hóa Tây Nguyên. Hơn hai mươi tộc người bản địa ở vùng “cao nguyên đất đỏ” (gồm 5 tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Đăk Lắc, Đăk Nông, Lâm Đồng), dân tộc nào cũng có cồng chiêng.
Không chỉ là những nhạc cụ có giá trị nghệ thuật hay giá trị vật chất đơn thuần, mà từ xa xưa, cồng chiêng và sinh hoạt văn hóa cồng chiêng đã trở thành biểu tượng thiêng liêng trong đời sống văn hóa tinh thần và tín ngưỡng ở vùng đại ngàn Tây Nguyên hoang sơ. Ngoài việc thưa gửi, cầu xin và tạ ơn các vị Yang (thần) ngự trị khắp nơi, cồng chiêng còn báo tin buồn vui, chúc thọ người già, mừng người trẻ trưởng thành, nên duyên đôi lứa... Cồng chiêng gắn bó mật thiết với mọi sinh hoạt cộng đồng, như là những lễ nghi của quy trình canh tác nông lịch (lễ tìm đất, lễ gieo hạt, lễ trỉa lúa, lễ tạ ơn thần lúa, lễ cúng bến nước), theo các lễ vòng đời của một con người, một gia đình (lễ thổi tai, lễ bỏ mả, lễ cưới, lễ tang...) hay một bộ tộc (mừng nhà mới, lễ bầu tộc trưởng). Tương ứng với mỗi nghi lễ là một bài chiêng, được diễn tấu một cách trang trọng, đầy thành kính. Không chỉ là phương tiện giao tiếp, gắn kết cộng đồng, thông qua tiếng chiêng, các dân tộc ở Tây Nguyên còn gửi gắm tâm hồn, ước nguyện của mình với các đấng thần linh, tổ tiên, bày tỏ mong muốn, khát vọng của con người về mùa màng, sức khoẻ, hạnh phúc. Mỗi dân tộc Tây Nguyên có một cách chơi chiêng khác nhau, cách sắp xếp, định biên dàn nhạc chiêng khác nhau. Người Tây Nguyên chỉ cần nghe tiếng chiêng và bản nhạc chiêng là có thể phân biệt được đó là dàn chiêng của dân tộc nào, chơi trong nghi lễ hay ngày hội nào.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, cồng chiêng không do cư dân Tây Nguyên tự đúc mà mua từ nơi khác về (chiêng do người Lào đúc gọi là ching Lao, chiêng có xuất xứ từ Campuchia gọi là ching Kuôr, còn chiêng do người Kinh đúc gọi là ching Joăn). Với đôi tai thẩm âm tinh tế và đôi tay khéo léo, dụng cụ chỉ là một chiếc búa nhỏ, các nghệ nhân chỉnh chiêng của Tây Nguyên đã biến một sản phẩm hàng hóa đơn thuần thành nhạc cụ trình diễn độc đáo. Để rồi, bằng tâm hồn giàu nhạc điệu và đôi tay tài hoa, các nghệ nhân diễn tấu đã biến mỗi cồng, chiêng thành một nốt nhạc trong dàn nhạc, tấu lên thành một bản nhạc chiêng chứa đựng những thang âm khác nhau. Có thể nói, đó là những giá trị sáng tạo mang tầm kiệt tác nhân loại.
Cồng chiêng có mặt ở nhiều nền văn hóa trên thế giới, nhưng chỉ ở khu vực Đông Nam Á thì cồng chiêng mới kết hợp thành dàn để diễn tấu độc lập hoặc kết hợp với các loại nhạc cụ khác. Tuy nhiên, so với cồng chiêng của các nước trong khu vực, cồng chiêng Tây Nguyên có những đặc thù riêng. Ở các dàn cồng chiêng Inđônêxia, Malaixia hay Philippin, nhạc công chỉ dùng tay phải gõ chiêng chứ không dùng tay trái bóp vành chiêng để thay đổi thang âm (tương tự cách bấm phím đàn) như ở cồng chiêng Tây Nguyên. Ở Đông Nam Á, ngày nay cồng chiêng đã trở thành một hoạt động âm nhạc biểu diễn, mang tính sân khấu cao, còn ở Tây Nguyên, cồng chiêng vẫn gắn bó với sinh hoạt cộng đồng ở những buôn làng người Ê Đê, Gia Rai, Mơ Nông, Ba Na... Trong khi cồng chiêng các nước gần như theo một hệ thống cố định (chẳng hạn như ở Inđônêxia gồm 5 loại nhạc khí) thì cách tổ chức của cồng chiêng Tây Nguyên rất đa dạng, có thể đơn giản gồm 2 chiếc (chiêng tha của người Brâu), 3 chiếc cồng núm (chiêng trum của người Gia Rai, Ê Đê, Raglai...) hay dàn chiêng arap gồm 9, 13 hoặc 15 chiếc cồng, chiêng của người Ba Na, Gia Rai, Ê Đê, Xơ Đăng... Khi diễn xướng, dàn cồng chiêng Tây Nguyên thường di chuyển vòng tròn ngược chiều kim đồng hồ (với ý nghĩa đi ngược thời gian để tìm về quá khứ, cội nguồn), người đánh chiêng cúi xuống như lắng nghe hồn chiêng, trong khi đó thì hầu hết dàn cồng chiêng của các nước khi biểu diễn đều ngồi yên một chỗ. Chính những khác biệt ấy đã làm nên bản sắc độc đáo của cồng chiêng Tây Nguyên. Và những giá trị ấy càng được khẳng định khi Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đã được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và Di sản phi vật thể của nhân loại vào tháng 11-2005.
Nguy cơ mai một
Lâu nay, đã có không ít ý kiến bày tỏ sự lo ngại về nguy cơ mai một của không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, thể hiện rõ nhất ở sự suy giảm số lượng cồng chiêng. Tỉnh Gia Lai trước năm 1980 có hàng chục ngàn bộ chiêng, mỗi gia đình sở hữu 2-3 bộ, mỗi plêi/plơi (làng của người Gia Rai, Ba Na) có hàng chục bộ chiêng, nhưng theo điều tra của Sở VH-TT-DL tỉnh này (tham luận tại Hội thảo quốc tế “Sự thay đổi đời sống kinh tế, xã hội và bảo tồn cồng chiêng ở Việt Nam và Đông Nam á”) cho biết: Hiện toàn tỉnh chỉ còn 5.655 bộ cồng chiêng, đáng chú ý là có hơn 200 làng của người Ba Na, Gia Rai ở tỉnh này không còn bóng dáng cồng chiêng! Năm 2001 tỉnh Đăk Nông còn 650 bộ chiêng, nhưng đến năm 2004 chỉ còn khoảng 330 bộ. Trong 10 năm từ 1982-1992, tỉnh Đăk Lắc mất 5.325 bộ chiêng, giai đoạn 1993-2003 mất tiếp 850 bộ và đến năm 2005 chỉ còn 3.825 bộ... Từ chỗ là vật thiêng, cồng chiêng đã trở thành hàng hóa có thể bán khi người dân cần vốn để sản xuất, mua sắm phương tiện (máy kéo, máy bơm nước...) hay đồ dùng sinh hoạt như tivi, xe máy... Tình trạng này dẫn đến hiện tượng "chảy máu cồng chiêng", khiến số lượng các bộ cồng chiêng ở Tây Nguyên bị suy giảm nhanh chóng.
Những thay đổi trong phương thức canh tác, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xu hướng đô thị hoá ở Tây Nguyên cũng ngày càng làm cho không gian văn hóa truyền thống thay đổi. Người dân ngày càng ít trồng lúa nước, làm nương rẫy mà chuyển dần sang trồng cà phê, hồ tiêu, hạt điều, trông chờ nhiều hơn vào các yếu tố khoa học mà ít cầu khấn thần linh như trước. Cơ chế thị trường và làn sóng đô thị hóa ùa về, len lỏi tới tận những buôn làng khuất nẻo. Nhịp sống hiện đại khiến cho không gian tâm linh, không gian diễn xướng của cồng chiêng cũng mất đi. Sự bùng nổ của công nghệ thông tin, mở rộng giao lưu văn hóa, du nhập các hình thức văn hóa và âm nhạc từ nước ngoài đã thu hút một bộ phận dân chúng. Trong lớp trẻ không ít người đã nảy sinh thái độ hờ hững, coi nhẹ giá trị của di sản văn hoá cồng chiêng, thích chơi ghi ta hơn là đánh chiêng, thích ngồi nhà xem tivi, hát karaoke hơn là tới nhà Rông nghe kể khan (sử thi) bên bếp lửa. Những hình thức sinh hoạt cộng đồng truyền thống với sự góp mặt của các bản nhạc chiêng dường như đã trở thành một phong tục lạc hậu, cũ kỹ. Sự phát triển của những tôn giáo, tín ngưỡng từ bên ngoài du nhập vào cộng đồng các dân tộc thiểu số Tây Nguyên cũng mang đến những quan niệm mới, thay đổi so với quan niệm truyền thống. Mỗi khi quan niệm “nhất thần” đã thay cho lễ nghi đa thần thì tiếng cồng tiếng chiêng cũng thưa vắng dần.
Những biến đổi về kinh tế-xã hội cũng như văn hóa tinh thần, tín ngưỡng nêu trên đã khiến nhiều người Tây Nguyên quên đi những bản nhạc chiêng. Nhiều nghệ nhân trẻ người Cờ Ho, Mạ ở Lâm Đồng không nhớ hết 36 điệu chiêng "của ông bà để lại". Người M'Nông ở Đăk Lắc từ chỗ có 40 bản nhạc chiêng, đến nay chỉ còn lưu truyền, trình diễn được 10 bản. Thậm chí, tại nhiều buôn làng M'Nông ở huyện Buôn Đôn không còn bộ chiêng M'Nông nào. Lãnh đạo một xã còn thay mặt bà con M'Nông bày tỏ nguyện vọng được tặng chiêng Jơ Rai chứ không muốn nhận chiêng của dân tộc mình, vì trong buôn không còn ai biết diễn tấu! Tỉnh này trước mỗi buôn có 50-70 người biết chơi cồng chiêng, nay mỗi buôn chỉ còn dăm bảy người. Số nghệ nhân chỉnh chiêng cũng thưa vắng dần. Và đó không chỉ là chuyện riêng ở Đăk Lắc.
Rõ ràng sự mai một của không gian văn hóa cồng chiêng là nguy cơ có thực, đã và đang đặt ra những vấn đề cần phải quan tâm đối với các cấp, các ngành hiện nay.
Bài 2- Để văn hóa cồng chiêng lan tỏa, trường tồn
Đã hơn 4 năm kể từ khi UNESCO công nhận Không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên là Kiệt tác di sản truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại (tháng 11-2005), nhiều công việc đã được ngành văn hóa và các địa phương triển khai, từ sưu tầm, nghiên cứu cho đến kiểm kê, ghi âm, ghi hình lưu trữ tài liệu, song chừng ấy dường như vẫn chưa đủ...
Bảo tồn cái gì?
Năm 2007 và 2008, Viện Văn hoá Nghệ thuật Việt Nam tiến hành điều tra, kiểm kê cồng chiêng ở 4 huyện Chư Păh (tỉnh Gia Lai), huyện Đắk R’lấp (tỉnh Đắk Nông), huyện Đắk Hà (Kon Tum) và huyện Cư Kuin (Đắk Lắc). Bằng phương pháp nghiên cứu âm nhạc dân tộc học, điền dã dân tộc học (mô tả, quan sát, tham dự...), thống kê, phân tích - tổng hợp, điều tra xã hội học, quay phim, chụp ảnh, ghi âm..., nhóm nghiên cứu không chỉ đã kiểm kê chính xác số lượng cồng chiêng ở từng làng từng xã (tức là kiểm kê số học đơn thuần), mà còn lần đầu tiên đo đạc được tần số âm thanh (kiểm kê chất lượng) và biểu đồ hóa tần số âm thanh của từng chiếc cồng, chiêng. Kết quả điều tra được lưu trữ bằng văn bản và đĩa DVD. Đó thực sự là nỗ lực rất đáng ghi nhận.
Tuy nhiên, tại hội thảo “Sự thay đổi đời sống kinh tế, xã hội và bảo tồn cồng chiêng ở Việt Nam và Đông Nam Á” vừa qua, nhiều học giả trong nước và quốc tế đã cho rằng: Cái chúng ta cần bảo tồn không chỉ là cồng chiêng hay kỹ thuật đánh cồng chiêng, mà cần phải bảo tồn không gian văn hóa cồng chiêng! Giáo sư Trần Văn Khê thẳng thắn phát biểu: "Bảo tồn kiểu tư liệu hóa, ghi âm, ghi hình nghệ nhân để lưu giữ là cách bảo tồn tiêu cực, chỉ có thể đưa vào bảo tàng phủ bụi thời gian. Bảo tồn không gian văn hóa cồng chiêng quan trọng nhất là bảo vệ "tính thiêng" của không gian ấy, nếu không thì chỉ còn phần xác chứ không có hồn".
Không gian văn hóa cồng chiêng là không gian cụ thể của cộng đồng buôn làng, gắn với rừng, với nhà rông, nhà dài, nhà mồ, nương rẫy trồng lúa, với những nghề thủ công và cả nghệ thuật ẩm thực độc đáo..., nhưng không gian ấy đang mai một trước áp lực của đời sống hiện đại: Rừng bị mất nhiều, cây lúa được thay bởi cây cà phê, hồ tiêu, nhà xây dần thế chỗ nhà sàn, nhiều cộng đồng theo đạo Tin lành đã xây mộ cho người chết nên không còn lễ bỏ mả nữa... "Nhà văn của núi rừng Tây Nguyên" Nguyên Ngọc từng khuyến cáo: "Làng và rừng là không gian xã hội, không gian sinh tồn của con người Tây Nguyên. Khi không gian ấy bị biến dạng, bị mất đi, thì làng tan, văn hoá tan. Nếu cồng chiêng không đặt trong không gian làng, rừng nơi đây, nó không còn là nét văn hoá Tây Nguyên nữa".
Tại hội thảo, Phó giám đốc Sở VH-TT-DL tỉnh Đắk Lắc Trương Bi đã bức xúc: "Vậy thì bảo tồn không gian văn hóa cồng chiêng là bảo tồn cái gì? Nếu không bảo tồn được buôn làng truyền thống thì không gian sinh tồn cho cồng chiêng có còn không?". Nhà nghiên cứu Linh Nga Niê K'đam, đại biểu người thiểu số duy nhất có mặt tại hội thảo, cũng khá quyết liệt: "Mặc dù ngành văn hóa đã có nhiều cố gắng, nhưng các hoạt động vẫn chủ yếu là đem cồng chiêng đi biểu diễn, chứ không gian cồng chiêng thì không còn trong đời sống cộng đồng... Sự đánh mất không gian tâm linh này là điều tất yếu, là hệ quả của việc thay đổi tập tục sống, phương thức sản xuất, tín ngưỡng…". Quả là khi không còn tháng ning nơng (tháng không làm rẫy, sau khi thu hoạch mùa lúa trước, bắt đầu tổ chức lễ hội), không còn mùa ăn năm uống tháng (mùa sinh hoạt văn hóa cộng đồng, giao lưu văn hóa, tìm bạn đời...), không còn các lễ cầu mưa, ăn cơm mới, cúng thần rừng, uống nước giọt... nữa thì những lời hát nhịp chiêng đương nhiên sẽ lặng dần trong các buôn làng. Tuy nhiên, nữ học giả người Ê Đê này lại cho rằng, không nhất thiết phải bảo tồn bằng được không gian văn hóa cồng chiêng, "trong hoàn cảnh thực tế bây giờ, ta chỉ nên bàn việc khôi phục môi trường diễn xướng trong cộng đồng thôi".
Bảo tồn cách nào?
Học viện Âm nhạc quốc gia tiến hành điều tra xã hội học đối với 110 sinh viên trường này, kết quả cho thấy: Phần lớn sinh viên chỉ biết Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên là di sản văn hóa phi vật thể, rất ít em biết đó là Kiệt tác truyền khẩu và di sản phi vật thể của nhân loại, hoặc Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Các em biết về cồng chiêng, xem trình diễn cồng chiêng Tây Nguyên chủ yếu qua ti vi. Đáng chú ý, không ít sinh viên không biết gì, hoặc chưa nghe nói bao giờ, về Chương trình hành động quốc gia để bảo tồn, phát huy giá trị di sản này. Không hiểu trong tương lai, “những chuyên gia âm nhạc học” này có thể làm gì đây để góp phần gìn giữ, kế thừa, phát huy giá trị di sản của dân tộc?
Một giải pháp được đề cập nhiều là phải nhanh chóng đưa nghệ thuật truyền thống vào giảng dạy ở bậc học phổ thông. Nhạc sỹ người Ôxtrâylia gốc Việt Nguyễn Lê Tuyên cho biết: Từ năm thứ nhất bậc phổ thông ở Ôxtrâylia, học sinh đã phải học 100-300 tiết âm nhạc dân gian/năm... Nhiều đại biểu tán thành việc mở lớp truyền dạy cách sử dụng, diễn tấu cồng chiêng, chỉnh chiêng ở các trường dân tộc nội trú, trường Trung học cơ sở ở Tây Nguyên. Tiến sỹ Phạm Lê Hòa, Hiệu trưởng ĐHSP nghệ thuật trung ương, khẳng định: “Giáo trình dạy âm nhạc phổ thông đang được biên soạn lại theo hướng "phần cứng" chỉ chiếm 1/3, “phần“mở” tạo bản sắc riêng của địa phương chiếm 2/3, ví dụ như học sinh Bắc Ninh sẽ tập trung học dân ca quan họ, còn học sinh Tây Nguyên sẽ tìm hiểu văn hóa cồng chiêng...”. Song, có một số ý kiến nghi ngờ tính khả thi của phương án “bảo tồn ngay trong trường học”, cho rằng “ai dạy phần “mở” của giáo trình này (?), bởi không thể chỉ dạy âm nhạc truyền thống bằng sách vở, lý thuyết cứng nhắc, mà học sinh phải được xem, nghe trực tiếp”. Tây Nguyên có hơn hai mươi dân tộc bản địa, sống rải rác, khác biệt về ngôn ngữ, truyền thống âm nhạc..., cũng sẽ rất khó cho việc tập hợp tư liệu, xây dựng giáo trình.
Để có thể bảo tồn, phát huy giá trị di sản, trước hết cần tăng cường tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của cộng đồng về những giá trị di sản của họ; quan tâm, bảo vệ, tôn vinh những nghệ nhân dân gian - những chủ thể sáng tạo của nghệ thuật cồng chiêng - từ nghệ nhân diễn xướng đến nghệ nhân chỉnh chiêng; mở những lớp tập huấn, nâng cao năng lực cho nghệ nhân trong việc truyền dạy cho thế hệ trẻ, có chính sách đãi ngộ đối với họ, như kinh nghiệm ứng xử với những “báu vật nhân văn sống” của Nhật Bản, Hàn Quốc, đồng thời đãi ngộ cả người theo học các nghệ nhân ấy; khuyến khích hình thành đội ngũ cán bộ, chuyên gia về văn hoá cồng chiêng là con em các dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, bà Linh Nga Niê K’đăm không tán thành việc truyền dạy nghề đúc chiêng ở Tây Nguyên: “Tây Nguyên không có nghề đúc đồng nên việc này chỉ gây tốn kém cho Nhà nước. Thay vào đó, căn cứ vào mật độ ching, chêng (tiếng Ba Na: cồng, chiêng) tồn tại không đồng đều trong cộng đồng, ta vận động bà con chuyển nhượng từ vùng còn nhiều sang vùng ít, với sự hỗ trợ kinh phí của Nhà nước, để chủ trương mỗi làng có một bộ chinh, chêng thành hiện thực”. Nguyên Phó viện trưởng Viện VHNT Việt Nam Phạm Hùng Thoan (người có gần 30 năm lăn lộn, gắn bó với Tây Nguyên, nguyên trưởng đoàn khảo sát điền dã, xây dựng hồ sơ Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trình UNESCO) cũng đề xuất Nhà nước nên mua cồng chiêng có chất lượng âm thanh tốt của dân rồi giao lại cho cộng đồng quản lý, kèm theo những điều kiện ràng buộc. Việc chuyển đổi quyền sở hữu cồng chiêng từ cá nhân sang cộng đồng, có sự giám sát của ngành văn hóa sẽ hạn chế được nguy cơ “chảy máu cồng chiêng”, nghệ thuật diễn tấu cồng chiêng sẽ có cơ hội lưu truyền đến các thế hệ kế tiếp.
Trong việc gìn giữ, bảo tồn không gian văn hóa cồng chiêng, không thể không nhắc đến vai trò, thế mạnh của báo chí, truyền thông. Tiến sỹ Trần Quang Hải (Tạp chí Cộng sản) nhấn mạnh: "Cần có một chiến lược thông tin, tuyền truyền về di sản, thậm chí lập hẳn một giải thưởng báo chí cho những tác phẩm hay về di sản văn hóa". Nhưng, bên cạnh những giải pháp trên, quan trọng nhất vẫn phải là bảo tồn cái “môi trường sống”, tức là môi trường diễn xướng của cồng chiêng. Nhiều ý kiến đồng tình với quan điểm để bà con tự quyết định phục dựng một số lễ hội nào đó để tạo môi trường nuôi dưỡng văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, thậm chí đưa sinh hoạt cồng chiêng vào các buổi sinh hoạt đoàn thể (như Trung tâm bồi dưỡng chính trị TP Buôn Ma Thuột đã từng tổ chức lễ mừng thọ tập thể theo nghi lễ truyền thống, rất được bà con hoan nghênh); thường xuyên tổ chức các festival, hội thi cồng chiêng, các sự kiện văn hoá gắn với cồng chiêng để giới thiệu, quảng bá rộng rãi; xây dựng thí điểm một số buôn làng thành điểm du lịch cộng đồng (như mô hình bản Lác ở Mai Châu, Hòa Bình) với đầy đủ không gian cần thiết cho văn hoá cồng chiêng, nâng cao hiệu quả hoạt động của các thiết chế văn hóa ở buôn làng như nhà rông hoặc nhà sinh hoạt văn hoá cộng đồng. Tuy nhiên, có nhiều ý kiến lo ngại về việc tổ chức diễn xướng cồng chiêng gắn với các hoạt động du lịch sẽ dẫn đến nguy cơ “sân khấu hóa”, “thương mại hóa”, khiến nghệ thuật cồng chiêng mất đi tính nguyên gốc-một cam kết quan trọng với UNESCO. Tiến sỹ Nguyễn Văn Lưu (Vụ Đào tạo, Bộ VH-TT-DL) thì cho rằng: “Phát triển du lịch để phát huy giá trị di sản, bởi du lịch đưa con người đến với di sản, song cũng coi chừng những mặt trái của du lịch như nguy cơ thương mại hóa, thay đổi môi trường sống của người dân. Tuy nhiên, không vì thế mà sợ không dám làm du lịch mà cần phải phát triển du lịch gắn với yếu tố bền vững"...
Những quan điểm trên đều có thể là giải pháp hay, nhưng sẽ khó thành hiện thực nếu không có sự can thiệp của Nhà nước. Thật đáng tiếc khi hội thảo quốc tế về cồng chiêng đầu tiên tổ chức tại Việt Nam sau 4 năm Không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên được UNESCO công nhận là Kiệt tác và Di sản của nhân loại - có sự tham gia của nhiều chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực âm nhạc, văn hóa dân gian, dân tộc học..., cả trong nước và quốc tế, với nhiều ý kiến tâm huyết - mới đi được nửa thời gian đã thiếu vắng nhiều lãnh đạo, đại diện cơ quan quản lý Nhà nước cấp trung ương và địa phương. Và như một nhà nghiên cứu tên tuổi trong lĩnh vực văn hóa dân gian khẳng định thì "nếu Nhà nước không vào cuộc thì các nhà khoa học chỉ đến đây ngồi cho vui thôi!".
Đức Hải