(HNM) - Nhà máy Thủy điện Tuyên Quang trên sông Gâm có công suất 342MW, mỗi năm hòa vào lưới quốc gia hơn tỷ “cân” (kw) điện. Để có được cái hồ hơn hai tỷ khối nước cho “nó” ăn, hai vạn khẩu của 4.000 hộ đồng bào Tày, Dao, Mông, Kinh thuộc huyện Nà Hang phải di dời, nói đúng ra là hy sinh cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Huyện nghèo, gần như cả trăm phần thuộc diện 135, lại phải hy sinh, nên rất lắm nỗi, lắm đỗi, kể hết ra không dễ.
|

|
|
Nhà sàn dựng lại ở Yên Sơn đều nhỏ hơn ở nơi cũ.
|
Bốn năm trước tôi lên Nà Hang, đến Thúy Loa, một trong năm xã sắp phải di nhẵn nhụi, thấy quang cảnh đẹp đến mê hồn. Dòng Gâm bên Hà Giang hùng vĩ thế, luồn qua núi đá chảy vào đây êm ả hẳn, lấp lánh thuyền chài. Cữ rằm tháng giêng, vườn còn đôi cánh hoa đào, mặt người ưng ửng men rượu ngô, lây phây thôi vì uống canh mắm cá ruộng chua vào không thể say. Nà Hang, hay bị người xuôi vô ý gọi “Na Hang”, nghĩa là ruộng sâu, nằm cuối cùng. Một vùng văn hóa Tày - Dao, dù đã Kinh hóa nhiều, vẫn giữ được bản sắc trong lời nói, miếng ăn và ngút ngát câu ca, thần tích.
Nhưng mà ngổn ngang. Thịt lợn muối cả tạ, trâu giết xẻ thịt hong khói hối hả. Nhà gỗ nghiến mười hàng chân cột lợp xương lá cọ dỡ đem đi. Nhưng mồ mả ông bà thì chịu. Lại có người buồn chả động chân tay, ông Nguyễn Đức Văn tiếc sáu trăm gốc quế, chảy nước mắt bảo, “chết ở đây thôi”. Người Tày họ Nguyễn thế nào cũng pha máu xuôi, tức là cắm sào mới đôi ba trăm năm, mà nhổ vẫn khó. Khó, rồi vẫn đi tiệt, để lại bếp lửa, điệu then. Hồ thủy điện nước dâng trung bình 36m, chôn báu vật bao đời người, cả nhìn thấy lẫn không nhìn thấy.
*
* *
Xã Lang Quán, huyện Yên Sơn có 20 thôn, giờ thêm thứ 21, là chòm 36 hộ Tày từ thôn Nà Múng - Thúy Loa bứng về. Nhà sàn dựng lại khá nhiều, bên dưới dựng xe máy, máy xát, cửa sổ thò ra ăng ten chảo, chắc tiện nghi nhiều hơn đất cũ. Không có bếp lửa ngún suốt ngày đêm, nơi “ta say thuốc lào ngã ngửa”, vì ấm hơn và cũng chả lấy đâu củi. Cây lưu niên mới thấp thoáng, nhiều gốc trên kia đánh về. Hành, cải, cây lá đỏ để nhuộm gạo trong vườn có rào chắn gà, còn lúa cum (nếp cái) đang chín ngoài ruộng, đàn bà mang về từng ôm. Quang cảnh không đến nỗi trơ trẽn như khu định cư Tân Lập bên Sơn La, toàn nhà sàn bê tông. Giữa thôn là con gò có trạm nước, chảy về từng nhà theo đường ống. Sở tại, đa phần người Kinh và một chòm Dao trong núi xa, được nhờ dân “tờ đờ cờ” (tái định cư) khá nhiều khoản điện đường trường trạm. Nhưng nhờ ở lâu và khôn ngoan hơn, họ lại lấy được tiền “tờ đờ cờ” nhờ nấu rượu, bán gói mì chính, miếng thịt. “Người Tày tử tế, đến xát gạo xẻ gạo lại, ngày rằm ngày một cho bún, xôi, bánh dầy, cưới xin nhất định mời, cũng tốn kém mà không thể từ”, một ông chủ tạp hóa người Kinh nhận xét. Ông này từ Ninh Bình lên năm 1963, lúc đất đang tốt mà không biết thâm canh, một sào chỉ cho dăm chục cân thóc. Nay thì con trai, con dâu ông không làm ruộng nữa, xoay sang cân xăng, cho thuê bàn bi - a và bán tạp hóa.
“Và họ cũng lười, hay uống rượu…”, một nhận xét khác.
Hoàng Đình Thảo là một người trong số “họ”. 54 tuổi ta tóc đen như quạ, khỏe, tươi giòn, lấy vợ “hơn tuổi, hơn cả chức vụ Đảng”, ông cán bộ thôn 21 này không dựng nhà sàn. 400 mét vuông đất ở - như các hộ khác - phần lớn dựng ngôi một tầng vách gỗ trần gỗ lợp ngói, là cái nhà sàn thênh thang trăm rưởi mét vuông trên Thúy Loa bứng về. Bên trong có bếp ga, xí bệt, bếp lửa đun xong dội nước kẻo tốn củi. Nghĩa là không có chuyện dãi thẻ khề khà ăn uống bập bùng nữa, càng không vườn trên ao dưới khách đến ra quăng chài. Mà Thảo ham vui, thích tập họp đông người, rất nhớ những Tết Lồng Tồng (Xuống đồng) trai bản đẽo gỗ chai làm quay ra bãi rộng đánh. “Không thi, không tổ chức gì nữa vì không có thưởng. Còn then với tính tẩu đã hết từ trên Thúy Loa, khi ông Lương Văn Phủng chết”, ông Thảo kể. “Trên ấy ném còn cũng đã kém rồi, ngày Tết ném mãi không thủng tờ giấy điều trên cọc tre, đem súng trường dân quân ra đòm cái cho được nghỉ. Thế mà về đây đi huyện hát cọi thi tôi còn được giải. Toàn câu cũ thôi, Mời anh lên Nà Hang xứ lạ/xem núi cao Pắc Tạ cảnh tiên/ngồi thuyền xem phặc phiền hoa nở /nghe câu chuyện Tài Ngào lấp biển…”.
Rượu tầm gửi nghiến chát thum thủm, câu chuyện giòn, người cười tươi nhưng đôi lúc nhãng đi thế nào. Cho nên hỏi đoạn làm ăn thì phải quay sang người đàn bà. Bà vợ là Nguyễn Thị Niên kể:
- Tôi về sau Tết linh ba, ăn mồng ba tháng ba dưới này. Trên Thúy Loa nhà có 13 bung (một bung hơn hai sào), 3ha nương, hơn 6ha vừa chè bốn tuổi vừa rừng cây chỉ bẻ, chẹo, bồ đề, quế, muồng, xoan. Nhà tôi phải gương mẫu, không đẵn thêm gỗ chở về nữa nên thiệt hơn người khác, chỉ còn bộ phản đinh hương là quý nhất. Xuống đây được 6 sào ruộng, nhưng một sào tinh cát không trồng được, tức là dân sở tại dựng bờ làm ruộng giả lấy tiền thanh toán với tái định cư mà cán bộ bên ấy không hay hoặc hay mà không bắt đền họ. Dù không dư nhưng ngần ấy đất là không lo đói rồi. Tôi muốn xoay cách làm ăn lại thiếu vốn, đất mới cấp chưa có sổ đỏ không thế chấp vay ngân hàng được. Đoạn dịch lợn, có nhà mất ba bốn chục triệu, tôi thì gần sáu triệu, rồi nhà lún nứt phải sửa lại, coi như tiền đền bù tái định cư không sắm được cái gì. À, thật ra cái ti vi, bếp ga, tủ đứng, nồi cơm điện này là đồ mới đấy. Nhưng vẫn kém người khác. Trong thôn có nhà Tiêu chạy máy xát, nhà Thư làm kem, nhà Thắng có công nông cho con chạy, mình chỉ được cái vui, đông khách.
- Thế thanh niên thì sao? - Tôi hỏi - Chúng nó có nói tiếng Tày nữa?
- Thằng này lớp ba chỉ nghe không nói được, bà Niên chỉ đứa cháu nội. Thằng Mẫn con trai làm thủ tục vay vốn để đi tỉnh học cao đẳng sư phạm một năm rồi, xã bảo chưa có chỉ tiêu. Con gái thứ tư học ngành tin, không có máy tính phải bỏ rồi đi công nhân cọc cạch, lấy chồng thì thôi chứ còn làm gì, tiếc lắm. Mấy năm rồi, cả thôn chưa đứa nào đỗ đại học, đỗ chưa chắc theo được… Kể ra thì dở dang, cứ đồng rừng chằn chặn như trên Thúy Loa là yên tâm không “tiến lên” đâu sất. Có hôm định chặt cái tay tre, bập dao vào biết không phải của mình ứa nước mắt ra. Nhà chật vào đụng ra chạm, vợ chồng đâm cãi nhau. Hôm cưới cháu tôi phải lên Nà Hang mua thớt nghiến…
Bà vợ ông Thảo họ Nguyễn. Ở Nà Hang, Nguyễn Thế sang cả nhất trong các dòng Tày Nguyễn. Thúy Loa không có họ ấy bèn gả cô gái sắc nước nhất cho trai Nguyễn Thế nơi khác, bắt ở rể, trồng cây xương cá đánh dấu quyền uy. Cái cây biểu tượng ấy, nhằm đúng lúc đàn người phải xẻ ra dăm bẩy nơi, đổ xuống, Nguyễn Thế tộc bèn xẻ ra chia mỗi anh mỗi mảnh. Giờ nó nằm đâu, ra thế nào nhỉ?
Chưa ai trả lời, và chắc chả ai định “tổng kết” cái biểu tượng ấy của quá khứ, dù trà tuổi như bà Niên không thể quên. Thì ông chồng đã lại lôi câu chuyện về miếng ăn, tất nhiên tiếc nuối là “âm hưởng chủ đạo”.
- Là vì tôi ham vui, thích liên hoan, ông chủ tươi tắn mở đầu. Từ ngày về đây tôi đi chủ hôn 33 cặp, có cả Thúy Loa lấy người cũ, rượu ngô uống cả can nhưng làm men bánh ngoài chợ thôi. Rượu ấy phải ngô núi đá ủ men lá mới thơm. Rau bò khai, mắm ruộng mất hẳn rồi. Thịt chua còn nhưng trời không lạnh, nước khác vị cũng khác. Mà con lợn “tham pi thí nạo” nuôi ba năm bốn yến thịt ngọt đâu có bã nát như giống tăng trọng dưới này. Tiếc nhất là bếp lửa. Người Tày đi nương về không còn được xẻo thịt khô trên bếp nấu rau cải hay với cây kiệu còn cả lá, củ nữa rồi. Các anh dưới xuôi, trên cao không biết cái tiếc ấy đâu.
“Thàng mảy lua khua lẻ lẻ!”. Ông Thảo bỗng cất tràng tiếng Tày, miệng cười mà mắt thật buồn. “Nghĩa là “lửa cháy đầu cười khúc khích”. Rít thuốc lào đấy, say ngã ngửa ra tóc bê bết tro than mới sướng chứ”.
Những tâm trạng trào ra không dừng được. Nhà ta thênh thang bếp rộng, bước xuống là có rau có cá, có lá nhuộm cho chõ xôi đủ năm mầu. Thúy Loa quê ta gái trai tắm sông trắng lóa, cá giầm xanh lách giữa đùi. Và huyện quê ta Nà Hang, hỏi trong tỉnh có vùng nào nhiều thần thoại bằng, câu nào cũng gắn với tên sông tên núi cả. Này là đèo Ái Au, đôi trai gái yêu nhau không lấy được, chết đi để lại tiếng ái au gọi nhau. Này là núi Ái Cao, dốc Pù Loòng Nào, đồi Ông Đi Qua Bà Đi Lại chất chứa sự tích đực cái, thác Mưa rơi cất nỗi buồn chồng lấy phải vợ tiên, chờ vợ hóa thành thác. Này hòn đá lớn ở Giáng Bát có ba vết nứt dở dang mà sắc ngọt như dao chém, là do các thần thi nhau chém xuống, hễ đứt thì được cai quản cả ba cõi Trần, Trời, Âm…
Chân người bước đến đâu cũng chạm phải Tài Ngào, ông khổng lồ đầu gối đỉnh Mã Pì Lèng, chân gác núi Pác Tạ, ngồi xuống hòn dái lõm thành thung Thượng Lâm. Tài Ngào dồn đá đắp đập chống hạn để lại cánh đồng đá, bóp trán cho mẹ làm bà chết thật, khóc trôi xác mẹ, chiếc quan tài đá bên bờ sông Gâm… giờ là đều chìm trong hồ thủy điện, cái núi đá ông buộc trâu hủm một nửa. Ơi Tài Ngào, mặt nước phủ hết chuyện về ông rồi. Đêm nào ta cũng mơ thấy đánh cá chăn trâu, ngửa cổ ngắm hoa phặc phiền đỏ rực vách đá. Giờ mà được trở lại sông núi xưa, đang đêm ta cũng đốt đuốc đi ngay.
- Giờ thì ông định trồng cây gì nuôi con gì cho ổn định lâu dài ở chỗ mới?
“Thàng mảy lua khua lẻ lẻ”. Ông Thảo không trả lời câu hỏi “tác nghiệp” của nhà báo, chỉ thốt vậy. Đã đến cái tuổi chỉ ngoái về sau rồi, nên mắt người đang vui thoắt lại thảng đi. Thàng mảy lua khua lẻ lẻ, ít người biết tiếc đấy…
Bút ký của Hoàng Định
|

|
|
Phụ nữ dân tộc Tày trồng lúa cum (lúa nếp), giữ nếp ăn từ xưa.
|