K-Pop không chỉ có hoa hồng

Âm nhạc | 15:18 Thứ Sáu ngày 01/06/2018
(HNM) - Cùng với điện ảnh, âm nhạc đại chúng Hàn Quốc (K-pop) đã tạo nên làn sóng văn hóa Hàn Quốc (Hallyu) có sức ảnh hưởng lớn với nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, bên cạnh những hào quang, sự phát triển bùng nổ của K-pop cũng để lại phía sau nó những khoảng tối hun hút.
 


Sự bùng nổ của K-pop

Từ cuối những năm 1990, đầu những năm 2000, làn sóng âm nhạc đại chúng Hàn Quốc bắt đầu được biết đến trong khu vực với sự xuất hiện của một vài nhóm nhạc thần tượng thời kỳ đầu như Shinhwa, DBSK, Super Junior. Năm 2003, Hàn Quốc trở thành thị trường âm nhạc đầu tiên trên thế giới có doanh thu nhạc số vượt lên trên doanh thu bán đĩa CD. Từ đây, đặc biệt là giai đoạn 2007-2008, những sản phẩm âm nhạc số của Hàn Quốc lan ra ở phạm vi toàn thế giới với những cái tên đình đám như: “Những vị thần phương Đông” DBSK, “Những ông hoàng Hallyu” Super Junior, “Nhóm nhạc nữ hàng đầu Châu Á” SNSD, “Ông hoàng bán đĩa” EXO, “Tường thành K-pop” Big Bang, “Ông hoàng giải trí” Bi Rain… Đặc biệt, năm 2012, bài hát Gangnam Style của nam ca sĩ PSY đã chính thức đưa K-pop lên bản đồ âm nhạc thế giới với hơn 1 tỷ lượt xem trên YouTube chỉ trong vòng 5 tháng và hiện con số này đã ở mức trên 3,1 tỷ lượt xem. Thậm chí, theo một kết quả điều tra xã hội học thì bài hát Gangnam Style đã thu hút hơn 10 triệu lượt khách du lịch tới Hàn Quốc.

K-pop không đơn thuần là một xu hướng nổi lên rồi biến mất như những thứ gọi là trào lưu mặc dù nó được tổ chức theo những khuôn mẫu nhất định. Các nhóm nhạc thần tượng Hàn Quốc được hình thành dưới sự quản lý của các công ty giải trí thường có nhiều thành viên, từ 5 đến hơn 10 thành viên. Họ thường được các công ty lựa chọn rất kỹ về hình thức, đầu tư chăm chút về trang phục, ngoại hình. Các công ty giải trí này thường không đầu tư mạnh về hệ thống phân phối mà lợi dụng luôn các website, trang mạng xã hội như YouTube để phổ biến tác phẩm đến người hâm mộ, coi nhạc số là mũi nhọn tiên phong. Nhờ sự đầu tư đúng đắn, các quy trình đào tạo bài bản và chiến lượt marketing độc đáo, K-pop đã dần trở thành một loại hình nghệ thuật, một thứ âm nhạc chuyên nghiệp với sự tham gia của rất nhiều ngôi sao hàng đầu Châu Á.

Hiện tại K-pop đang được dẫn dắt và chịu sự ảnh hưởng chính bởi 3 công ty giải trí hàng đầu (người Hàn Quốc vẫn gọi là Big 3) là SM Entertainment, YG Entertainment và JYP Entertaiment. Ba công ty này tham gia vào mọi khâu từ tuyển chọn, đào tạo thực tập sinh, thành lập ban nhạc, định hướng phong cách, quảng bá và thu lợi nhuận. Mặc dù hiện nay K-pop đang bị đánh giá là thoái trào nhưng doanh thu của các công ty giải trí Hàn Quốc vẫn ở mức rất cao nhờ các nhóm nhạc thần tượng sở hữu một lượng fan đông đảo và ổn định. Năm 2017, tour diễn của TVXQ thu về cho SM doanh thu 100 triệu USD (khoảng 2.270 tỷ đồng). Trong khi đó Big Bang đem lại đến 80% lợi nhuận cho YG. Ước tính, chỉ riêng trong năm 2015, Big Bang đã giúp YG bỏ túi khoảng 130 triệu USD (tức gần 2.951 tỷ đồng) và năm 2017, con số này đã tăng 1,5 lần.

Khoảng tối

Ngày nay, những thông tin về nền âm nhạc đại chúng Hàn Quốc đã trở nên rất đỗi quen thuộc với công chúng Việt, đặc biệt là giới trẻ. Thậm chí, đã nhiều lần báo chí đã phải cảnh báo về xu hướng thần tượng, bắt chước thái quá những nghệ sĩ đến từ xứ sở Kim chi của nhiều người trong giới trẻ Việt Nam. Ở hình ảnh những bạn trẻ, hoặc cả những em bé xếp hàng tham gia thử giọng tại các cuộc thi hát trên truyền hình, miệt mài trong các "lò luyện âm nhạc nhí"… đều thấp thoáng bóng dáng ước mơ “vươn tới một ngôi sao” giống như nhiều người trẻ Hàn Quốc đã và đang trải qua. Tuy nhiên, ít ai biết được rằng để có được thành công các ca sĩ thần tượng Hàn Quốc đã phải "ngụp lặn" trong một môi trường cạnh tranh vô cùng khốc liệt.
Ở Hàn Quốc, các công ty giải trí đình đám có quyền lực chi phối gần như hoàn toàn với các ngôi sao. Họ tổ chức những buổi thử giọng để tuyển các thực tập sinh (trainee) ở độ tuổi còn rất trẻ. Và hệ thống đào tạo trainee thường xuyên bị chỉ trích vì vi phạm quyền con người khi đối xử khắt khe với những đứa trẻ ở tuổi vị thành niên.

Thông thường các thực tập sinh sẽ phải từ bỏ môi trường học đường để đến học tập trung tại các công ty giải trí, dành phần lớn thời gian để học nhạc, vũ đạo, ngoại ngữ hay các kỹ năng cần thiết khác để chuẩn bị ra mắt công chúng. Có một số công ty giải trí yêu cầu rất khắt khe về các trainee như không sử dụng điện thoại, không dùng chất kích thích có hại cho sức khỏe trong quá trình huấn luyện. Có người mất 1-3 năm để ra mắt, nhưng cũng có người bỏ ra cả một quãng thời thanh thiếu niên, thậm chí đến 10 năm để được đứng trên sân khấu. Theo thống kê, có khoảng 100 thần tượng mới ra mắt mỗi năm, nhưng chỉ có dưới 5% thành công. Các công ty thường ràng buộc ca sĩ trong một thời gian dài bằng những hợp đồng khắt khe, có khi lên đến cả chục năm. Bởi vậy, ngay cả khi đã ra mắt thành công, các ngôi sao tiếp tục phải “cày” liên tục với lịch trình kín đặc để duy trì độ “hot” và kiếm tiền chi trả lại chi phí đào tạo khổng lồ mà các công ty giải trí đã bỏ ra cho họ.

Áp lực phải nổi tiếng cũng như phải duy trì độ “hot”, phải sống theo cách mà công ty quản lý mong muốn khiến rất nhiều ngôi sao lâm vào cảnh bế tắc, thậm chí phải tìm đến cái chết như ngôi sao 27 tuổi Jong Hyun, thành viên nhóm SHINee đã tự tử tại nhà riêng vào cuối năm ngoái. Trong thư tuyệt mệnh để lại, Jong Hyun thừa nhận anh cảm thấy cuộc sống quá áp lực và buồn chán. Gần đây, hàng loạt những vụ bê bối liên quan tới tấn công tình dục, sử dụng chất kích thích được phát hiện ở nền giải trí đình đám này đã khiến người ta giật mình về khoảng tối phía sau của sự nổi tiếng.

K-pop không phải chỉ có hoa hồng. Những bài học từ nền giải trí này cho thấy làm công nghiệp âm nhạc cũng như bất kỳ lĩnh vực nào khác của công nghiệp văn hóa nếu không có một nền tảng vững chắc thì hào quang trước mặt càng sáng lóa bao nhiêu, khoảng tối sau lưng càng nhiều bấy nhiêu!
Quang Huy
Từ khoá
Bình luận
Gõ tiếng Việt có dấu, tối thiểu 15 chữ
Thông báo