Chuyện đỏ đen ở Hà Nội xưa

Giới trẻ - Ngày đăng : 05:44, 23/11/2014

(HNM) - Nhận xét về đặc tính chung của người Việt, trong

Vua cũng mở sòng

Lịch sử ghi chép nhiều ông vua các triều đại phong kiến Việt Nam là bậc minh quân song cũng không thiếu các ông vua sống xa hoa, ham cờ bạc, dung túng quan tham khiến quan liêm và dân chúng oán hờn.

Phố Cầu Gỗ đầu thế kỷ XX.


Trong số các ông vua ấy phải kể đến Trần Dụ Tông (1336-1369). Là ông vua thông tuệ, học vấn cao minh, Trần Dụ Tông chăm lo việc võ, sửa sang việc văn khiến thần dân đều phục. Đời Thiệu Phong (niên hiệu đầu tiên của Trần Dụ Tông) chính sự tốt đẹp nhưng càng về sau càng đổ đốn. Sách “Đại Việt sử ký toàn thư” chép: “Trần Dụ Tông họp các nhà giàu ở làng Đình Bảng, làng Nga Đình ở Quốc Oai vào cung đánh bạc làm vui, một tiếng bạc đặt 300 quan, ba tiếng thì đặt gần 1.000 quan”. Để có tiền ăn chơi và đánh bạc, Dụ Tông cho đúc đồng “Thiệu Phong thông bảo”. Theo giá trị truyền thống vào thời đó, 1 lạng bạc = 1 quan = 10 tiền = 690 đồng. Như vậy, một tiếng đánh bạc của Dụ Tông tương đương với 300 lạng bạc. Nếu quy đổi 300 lạng bạc ra tiền đồng ngày hôm nay thì đó là một số tiền vô cùng lớn. Việc Dụ Tông làm bậy, biến cung đình tôn nghiêm thành chỗ chơi bạc đã đi ngược lại tâm đức của các vua Trần trước đó vốn nghiêm khắc với trò đỏ đen. Năm 1269, quan thượng phẩm Nguyễn Hưng tụ tập bọn nha lại đánh bạc trong tư dinh. Việc bị phát giác, vua Trần Anh Tông (1271-1314) sai vệ úy đánh chết Nguyễn Hưng còn bọn tòng phạm thì bị phạt nặng. Sách “Việt sử tiêu án” đã phê phán Trần Dụ Tông: “Làm vua một nước mà mở sòng bạc để lấy hồ thật đáng bỉ”. Còn “Đại Việt sử ký toàn thư” dẫn lời sử gia Phan Phu Tiên: “Dụ Tông công nhiên làm bậy, gọi những nhà giàu vào cung đánh bạc để rồi sau người trong nước bắt chước cái dở ấy không thể ngăn cấm được nữa cuối cùng vì tệ đánh bạc mà mất nước”. Vì quá ham mê chơi bời và bài bạc nên Dụ Tông mất năm 34 tuổi. Sau khi ông mất, bão táp trong cung đình nhà Trần nổi lên vì bà Hoàng thái hậu nhất định đòi lập người con nuôi của Cung Túc Vương là Dương Nhật Lễ. Nhật Lễ lên ngôi vua muốn cải họ Dương để dứt ngôi nhà Trần nên đã giết Hoàng thái hậu và Cung Định Vương, Cung Tĩnh Vương sợ hãi phải trốn lên Đà Giang. Các tôn thất nhà Trần hội nhau khởi binh giết chết Nhật Lễ rồi lên Đà Giang rước Cung Tĩnh Vương về làm vua (là Trần Nghệ Tông).

Sau khi đánh đuổi quân Minh ra khỏi bờ cõi Đại Việt, Lê Lợi lên ngôi năm 1428, một năm sau nhức nhối vì tệ nạn đánh bạc từ kinh đô lan ra khắp nơi làm suy đồi đạo đức, Lê Thái Tổ đã ra chỉ dụ. Sách “Đại Việt sử ký toàn thư” chép: “Ra lệnh cho các quan kinh đô và các lộ, huyện, xã rằng, kẻ nào du thủ du thực đánh cờ đánh bạc thì quan ty, dân binh bắt để trị tội. Kẻ đánh bạc thì chặt 5 ngón tay, đánh cờ chặt 1 ngón”. Đến đời vua Lê Nhân Tông (1441-1459), Lê Nhân Lập là con của Thiếu úy Lê Lan cùng bọn người xấu trong thành là Nguyễn Thọ Vực họp nhau đánh bạc, trộm cướp. Trước những việc làm bậy bạ, triều đình đã cho quân đến nhà Vực, dụ Lập và đồng bọn ra rồi chém thẳng tay khi bọn chúng đang đánh bạc ở nhà Vực. Đến triều Nguyễn, vua nào cũng ra chỉ dụ nhưng cờ bạc vẫn tràn lan trên các phố.

Đỏ đen thời Pháp thuộc

Trong “Phú tài bàn” Nguyễn Thiện Kế, một trong những lãnh tụ của nghĩa quân Bãi Sậy đã than về nạn đánh tài bàn: “Thím khách, cô tây, bác thông cậu ký, thầy giáo, thầy Nho, cụ tổng cụ lý; ông cả, bà lớn, bố cu, mẹ đĩ; đến cả sãi chùa, cùng đàn trẻ bé; rằng buồn ông chơi, thấy vui cháu ké”. Sau khi chiếm thành năm 1882, sang năm 1883, để có nguồn thu, chính quyền Pháp cho phép mở các cửa hàng bán thuốc phiện, tiệm hút và sòng bạc ở Hà Nội để thu thuế. Trúng thầu không ai khác ngoài Hoa thương. “Bài ca khuyên răn cờ bạc” xuất bản năm 1921 bằng chữ Nôm có câu:

Bỏ tài bàn đố chữ đi thôi
Tổ tôm sóc đĩa sợ rồi.


Tài bàn, tổ tôm, sóc đĩa vốn là bài lá có từ lâu nhưng đố chữ là trò chơi lần đầu xuất hiện. Người Pháp gọi là “toóng sít bết” (Le jeu des 36 bêtes). Đố chữ chỉ có ở Hà Nội vì trò này cần phải biết chữ Hán lại phải nơi đông đúc để thu hút người chơi. Ở phố Hàng Buồm có một sòng đố chữ, chủ sòng là Hoa kiều tên Vầy, gốc Quảng Đông. Sáng ra, ông Vầy cho treo bảng viết một câu thơ Trung Hoa cổ có 7 chữ bằng mực trước cửa nhà nhưng bỏ trống một chữ. Bên cạnh treo bảng có 36 chữ để người chơi lựa chọn và điền vào chữ bỏ trống. Người chơi đặt bao nhiêu tùy thích, nếu trúng được gấp 36 lần. Và người chơi cũng không cần phải lên Hàng Buồm, gần như mỗi phố đều có một người “đại thu” (giống như đại lý cho chủ đề bây giờ). Kẻ không biết chữ nghĩa, thơ phú thì hóng hớt đặt tiền theo và vì nó bí mật nên đố chữ lôi kéo rất đông kẻ mũ cao áo dài. Buổi chiều, đến giờ đổ chữ, sòng đánh một hồi trống rồi mở cái cuốn chữ treo trước cửa. Và từ đây kết quả lan ra khắp thành phố, kẻ cười người tiếc vì đoán sát sàn sạt, lại có kẻ mếu máo cho số mình đen đủi nên đi cầu thánh, cầu tiên, ăn chay nằm mộng, lễ gốc đề gốc đa, lễ ma xó để mong đoán trúng chữ. Nhưng người chơi không biết chủ sòng “vừa đá bóng vừa thổi còi”, họ thay đổi chữ nếu thấy nhiều kẻ đoán đúng và người chơi dù biết chữ đó không hợp cũng không thể kiện lên quan Pháp. Vì thế “Bài ca khuyên răn cờ bạc” khuyên dân Việt không nên chơi đố chữ vì trò này làm giàu cho Hoa thương. Khi đố chữ không còn thu hút nữa thì chủ sòng xoay sang trò đố con vật. Họ đưa ra bảng có tên 36 con vật ở dưới kèm theo câu thơ ngắn được phiên ra âm Việt. Ví dụ con gà họ ra thơ như sau:

Không chồng mà đẻ mới ngoan
Có chồng mà đẻ thế gian sự thường.


Cách chơi cũng na ná như chơi đố chữ, ai đoán trúng được gấp 36 lần số tiền bỏ ra.

Một trò khác cũng thu hút khá đông những người mê đen đỏ là sòng phán thán nôm na là sóc đĩa, hay còn gọi cách khác là chơi chẵn lẻ. Chủ sòng đồng thời cũng là nhà cầm cái hầu hết là Hoa thương, họ nộp thuế cho thành phố vì thế được phép mở cả ngày cả đêm. Phần thắng thường thuộc về nhà cái vì họ trường vốn. Tuy nhiên, rất nhiều người thích chơi tổ tôm, tài bàn nên xuất hiện khá nhiều nhà gá bạc lậu. Chủ nhà lo chỗ ngồi, nước thuốc, ăn uống, bảo đảm an toàn. Cứ mỗi ván ù thì người ù phải trả cho nhà cái một khoản tiền còn gọi là cắt hồ, vì thế mới có câu “Thứ nhất gột cá, thứ nhì gá bạc”.

Thời Pháp thuộc, phố Mã Mây nổi tiếng là phố gá bạc, chủ gồm cả người Hoa lẫn người Việt. Họ nộp tiền cho cảnh sát để họ lờ đi. Khách chơi không chỉ người trong phố mà còn là các ông chánh tổng hay lý trưởng ở quê ra mua sắm cho làng ghé vào, cánh buôn nước mắm Nghệ An ra Hà Nội cũng có ông hết tiền về đành ở lại Hà Nội làm “bạt tê” (phu khuân vác) trong chợ Đồng Xuân. Ngày Quốc khánh Pháp (14-7), chính quyền cho đánh thỏa mái không phạt vì thế ở phố Mã Mây, bàn đánh bạc kê ra cả vỉa hè. Nhiều người thua bạc đã mất hết gia sản. Tờ “Hà Nội báo” năm 1936 có bài viết về ông Nguyễn Thành Khanh ở phố Cầu Gỗ phải gán nhà, vợ con phải ra sống gầm cầu Long Biên, còn ông quẫn lên nhảy cầu tự tử. Cũng có người thua bạc phải gán con gái làm lẽ cho các ông già. Lại có người gán cả vợ. Ngoài bãi sông Hồng, dân lao động nhập cư ít tiền nên chơi cò con nhưng khối kẻ nợ nhà cho vay lãi không giả được phải lao xuống sông Hồng. Vào nửa cuối những năm 30 thế kỷ XX, Khâm Thiên trở thành phố có sàn khiêu vũ và nhiều quán cô đầu. Cũng chính từ quán này xuất hiện trò chơi ăn tiền bằng bài Tây và người ta gọi là chơi KT (Khâm Thiên). Trò này chỉ lấy từ 9 đến K (quy ước chất cơ hơn rô, rô hơn tép, tép hơn bích). Trò mang tính sát phạt này thu hút thanh niên vì dễ chơi và thời gian mỗi ván rất nhanh.

Cùng với thuốc phiện, cờ bạc làm sói mòn đạo đức, làm dân ta quên mình đang là dân nô lệ. Thế nên rất nhiều tờ báo tiến bộ, đặc biệt những tờ báo của Đảng Cộng sản Đông Dương đã lên án âm mưu của chính quyền Pháp. Sau năm 1954, cờ bạc bị coi là tệ nạn xã hội nên bị chính quyền mới ra lệnh cấm.

Nguyễn Ngọc Tiến