Phó Thống đốc: Khuyến khích nhà đầu tư “ngoại” tham gia tái cơ cấu ngân hàng yếu kém

Kinh tế - Ngày đăng : 08:09, 30/01/2015

(HNMO) - Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Phước Thanh cho biết, Ngân hàng Nhà nước luôn xác định nguồn lực tài chính từ nước ngoài là quan trọng để hỗ trợ cho quá trình tái cơ cấu, đặc biệt là xử lý các tổ chức tín dụng yếu kém.


Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Nguyễn Phước Thanh đã trao đổi với báo chí xung quanh vấn đề sáp nhập, hợp nhất các tổ chức tín dụng và xử lý nợ xấu.

-Xin ông cho biết về định hướng của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) về sáp nhập, hợp nhất các tổ chức tín dụng (TCTD) trong thời gian tới?


Về định hướng, NHNN tạo điều kiện thuận lợi và ủng hộ hoạt động sáp nhập, hợp nhất trên cơ sở tự nguyện, phù hợp với lợi ích, chiến lược kinh doanh của từng TCTD và đảm bảo tuân thủ các quy định của pháp luật, góp phần lành mạnh hóa thị trường tiền tệ - ngân hàng, thực hiện thành công Đề án cơ cấu lại các TCTD theo đúng mục tiêu và lộ trình đề ra.

Phó Thống đốc NHNN Nguyễn Phước Thanh


Hiện nay, NHNN đang hướng dẫn thủ tục triển khai mua lại, sáp nhập, hợp nhất TCTD gắn với việc thực hiện Nghị quyết số 15/NQ-CP ngày 06/3/2014 của Chính phủ và Quyết định số 51/2014/QĐ-TTg ngày 15/9/2014 của Thủ Tướng Chính phủ.

NHNN sẽ xử lý tiếp một bước cơ bản tình trạng sở hữu chéo để hình thành một số TCTD có quy mô lớn, khả năng cạnh tranh cao theo mục tiêu tại Đề án 254. Một số TCTD yếu kém có thể được NHNN xem xét, áp dụng biện pháp can thiệp bắt buộc thông qua mua cổ phần và tiến hành sáp nhập vào TCTD khác.

-Còn chủ trương về việc nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của các TCTD Việt Nam, thưa ông?

Trong điều kiện ngân sách nhà nước còn hạn hẹp, Chính phủ Việt Nam có chủ trương xã hội hóa nguồn lực tài trợ cho chương trình tái cơ cấu các TCTD, theo đó, tạo điều kiện cho các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài tham gia vào quá trình tái cơ cấu này. Đối với nhà đầu tư nước ngoài, chủ trương này được thể hiện tại Đề án 254. Theo đó, việc sáp nhập, hợp nhất, mua lại giữa các TCTD nước ngoài với TCTD Việt Nam thực hiện theo nguyên tắc tự nguyện và theo quy định của pháp luật hiện hành; khuyến khích các TCTD nước ngoài hợp tác kinh doanh chặt chẽ với TCTD Việt Nam, đặc biệt trong việc xử lý những vấn đề khó khăn của các TCTD Việt Nam; khuyến khích các TCTD nước ngoài góp vốn, mua cổ phần, mua lại, sáp nhập, hợp nhất với các TCTD trong nước yếu kém phải cơ cấu lại; xem xét, tăng giới hạn sở hữu cổ phần của TCTD nước ngoài tại các ngân hàng thương mại cổ phần yếu kém được cơ cấu lại.

-Chủ trương trên được hiện thực hóa như thế nào?


Để hiện thực hóa chủ trương trên, Nghị định số 01/2014/NĐ-CP của Chính phủ đã cho phép các nhà đầu tư nước ngoài được sở hữu đến 30% vốn điều lệ của TCTD cổ phần và giới hạn sở hữu cổ phần đối với một nhà đầu tư nước ngoài được đối xử bình đẳng như đối với một nhà đầu tư trong nước. Ngoài ra, nhằm khuyến khích nhà đầu tư nước ngoài tham gia tái cơ cấu TCTD cổ phần yếu kém, Nghị định có quy định: Thủ tướng Chính phủ quyết định tỷ lệ sở hữu cổ phần của một tổ chức nước ngoài, một nhà đầu tư chiến lược nước ngoài, tổng mức sở hữu cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài tại một tổ chức tín dụng cổ phần yếu kém để cơ cấu lại TCTD này.

Ngày 8/12/2014, NHNN đã ban hành Thông tư 38/2014/TT-NHNN quy định về hồ sơ, trình tự, thủ tục chấp thuận việc nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của tổ chức tín dụng Việt Nam, trong đó, quy định việc xem xét, thẩm định và trình Thủ tướng quyết định tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài tại một TCTD yếu kém, với tổng mức sở hữu cổ phần không giới hạn.

Có thể nói, NHNN luôn xác định nguồn lực tài chính từ nước ngoài là quan trọng để hỗ trợ cho quá trình tái cơ cấu, đặc biệt là xử lý các TCTD yếu kém. Do vậy, với quy định nêu trên, nhà đầu tư nước ngoài sẽ có thêm cơ hội tham gia đầu tư, tái cơ cấu TCTD Việt Nam.

-Thời gian qua, dư luận cho rằng VAMC chỉ là “phao cứu cánh” cho vấn đề nợ xấu, việc tự xử lý nợ xấu của các ngân hàng thương mại ít được nhắc đến. Phải chăng hoạt động này không hiệu quả nên mọi trọng trách dồn lên VAMC, thưa ông?


Trước hết, phải nhấn mạnh VAMC chỉ là một công cụ xử lý nợ xấu bên cạnh nhiều công cụ khác, có thể kể đến như: TCTD tự xử lý bằng cách nhận tài sản đảm bảo thay cho nghĩa vụ trả nợ; phát mại tài sản đảm bảo để thu hồi nợ; sử dụng dự phòng rủi ro để xử lý nợ; chuyển nợ xấu thành vốn góp, khách hàng tự trả nợ... Thực tế xử lý nợ xấu năm 2014 cho thấy, việc xử lý nợ xấu của toàn hệ thống TCTD đã đạt được những kết quả ban đầu khả quan. Trong tổng số nợ xấu đã được xử lý, số nợ xấu do khách hàng tự trả chiếm tỉ lệ 35%, nợ xấu được TCTD xử lý bằng dự phòng rủi ro, qua phát mại tài sản để thu hồi nợ chiếm 30%, nợ được bán cho các tổ chức, cá nhân (chủ yếu là bán cho VAMC) chiếm 35%. Tỷ lệ nợ xấu bán cho VAMC gần đây tăng lên nhanh chóng do các TCTD đã nhận thấy phương thức này mang lại nhiều lợi ích cho chính TCTD.

Kết quả xử lý nợ xấu đạt được đến nay tiếp tục ghi nhận sự cố gắng của hệ thống các TCTD, nhất là trong điều kiện không có sự hỗ trợ tài chính từ ngân sách nhà nước, cơ chế chính sách còn nhiều hạn chế, bất cập và nền kinh tế còn nhiều khó khăn. Điều này cũng thể hiện các giải pháp xử lý nợ xấu được ngành ngân hàng triển khai quyết liệt và có hiệu quả. Mô hình hoạt động của VAMC chưa từng có tiền lệ bước đầu phát huy hiệu quả tích cực trong việc xử lý nợ xấu của hệ thống các TCTD và hỗ trợ khó khăn cho khách hàng, khẳng định tính đúng đắn của việc lựa chọn công cụ này trong việc xử lý nợ xấu của hệ thống các TCTD.

Tuy nhiên, những cố gắng của ngành Ngân hàng trong xử lý nợ xấu là chưa đủ bởi vì nợ xấu là vấn đề của nền kinh tế, cần có sự tham gia, hỗ trợ tích cực của các cơ quan, bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp.

-Theo yêu cầu của Quốc hội và Chính phủ, đến cuối năm 2015 nợ xấu về dưới 3%, vậy cần những biện pháp gì trong thời gian tới để nợ xấu cán đích, thưa ông?


Để thực hiện mục tiêu về nợ xấu, nhiệm vụ trọng tâm của NHNN và các bộ, ngành, địa phương trong thời gian tới là phải tập trung đẩy mạnh phối hợp và triển khai các nhóm giải pháp xử lý nợ xấu đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Đề án “Xử lý nợ xấu của hệ thống TCTD” ban hành theo Quyết định 843. Đặc biệt, hoạt động mua, xử lý nợ xấu của VAMC cần được đẩy mạnh hơn nữa để VAMC thực sự trở thành công cụ đặc biệt của Nhà nước nhằm góp phần xử lý nhanh nợ xấu, lành mạnh hóa tài chính của các TCTD, giảm thiểu rủi ro cho các TCTD, doanh nghiệp và thúc đẩy tăng trưởng tín dụng hợp lý cho nền kinh tế.

-Xin cảm ơn ông
!

Hương Thủy